XÂY DỰNG MỘT TƯƠNG LAI CHUNG CHO TẤT CẢ SỰ SỐNG 22/05/2022

TS. Nguyễn Đình Đáp

Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

    Ngày Quốc tế đa dạng sinh học (22/5) năm 2022 được Ban Thư ký Công ước đa dạng sinh học lựa chọn chủ đề “Xây dựng một tương lai chung cho tất cả sự sống,” nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau hành động để xây dựng một cuộc sống tương lai hài hòa với thiên nhiên. Với Việt Nam - quốc gia có đa dạng sinh học cao, đặc biệt là đa dạng về loài, việc xây dựng “nền móng” cho tương lai xanh của sự sống càng trở nên cấp thiết, nhất là trong bối cảnh số lượng các loài nguy cấp, các loài bị đe dọa đang tăng lên.

        Nhân sự kiện Ngày Quốc tế Đa dạng sinh học năm 2022, nội dung bài viết sẽ cung cấp các thông tin cơ bản về hiện trạng đa dạng sinh học toàn cầu và của Việt Nam, cũng như các giải pháp phục hồi hệ sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học trong thời gian tới.

Vấn đề đa dạng sinh học trên toàn cầu

        Đa dạng sinh học (ĐDSH) và hệ sinh thái cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, đặc biệt là các dịch vụ điều tiết và hỗ trợ, giúp con người thích ứng với các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai.

        Mặc dù vậy, ĐDSH trên toàn cầu đang bị suy thoái với tốc độ chưa từng có trong lịch sử loài người (IBPES, 2019). Tình trạng này đe dọa đến tiến trình phát triển bền vững của nhân loại. Chính vì thế, Liên Hợp Quốc kêu gọi áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiên nhằm thúc đẩy bảo tồn ĐDSH, đóng góp chung vào nỗ lực toàn cầu trong bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững.

        Báo cáo IPBES cho thấy, 1 triệu (trong tổng số 8 triệu) loài động thực vật trên Trái Đất đứng bên bờ vực tuyệt chủng. Trong số các loài đang trong tình trạng bị đe dọa có tới 25% loài động vật có vú và 39% động vật có vú sống ở biển; 41% động vật lưỡng cư; 19% loài bò sát; 13% loài chim; 7% loài cá; 31% cá đuối và cá mập; 33% rạn san hô; 27% động vật giáp xác; từ 16% đến 63% thuộc về các loài thực vật. Ước tính 82 phần trăm sinh khối động vật có vú hoang dã đã bị mất [5].

        Bên cạnh đó, các loài thực vật cũng đang bị suy giảm nghiêm trọng. Các khu rừng chứa 60.000 loài cây khác nhau nhưng mỗi năm có khoảng 10 triệu ha rừng bị mất kéo theo nhiều loài thực vật bị suy giảm. Từ năm 1990 đến nay đã có khoảng 420 triệu ha rừng đã bị mất do chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác [5].

        Sự suy thoái và biến mất của nhiều loài sinh vật, thực vật đã khiến Liên Hợp Quốc phải xác định thập niên 2020 – 2030 là thập niên phục hồi hệ sinh thái. Đây là thời điểm quan trọng để các nước cùng xây dựng một tầm nhìn mới cho những năm tiếp theo. Để có một khuôn khổ hành động, hiện nay các nước đang cùng nhau xây dựng Khung Chiến lược toàn cầu về đa dạng sinh học sau năm 2020 (GBF), mục tiêu: “Đến năm 2050 con người sống hài hòa với thiên nhiên; đa dạng sinh học được coi trọng, bảo tồn, phục hồi và sử dụng một cách khôn ngoan”.

        Theo các chuyên gia về môi trường, để đạt được mục tiêu chung cần thiết có sự hợp tác chặt chẽ, thống nhất nguồn lực và kết nối hành động giữa các quốc gia. Đối với Việt Nam, cần có định hướng cụ thể về chiến lược bảo tồn và phát triển ĐDSH. Các khu vực bảo tồn cần được ưu tiên trong các quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh. Tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc tế, phối hợp liên ngành, sự tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng để triển khai các chương trình bảo tồn và phục hồi ĐDSH. Lồng ghép bảo tồn ĐDSH trong các quy hoạch, chiến lược, kế hoạch của các ngành kinh tế có tác động nhiều đến hệ sinh thái, như: Nông, lâm, ngư nghiệp, du lịch, giao thông, năng lượng, sử dụng đất. 

Đa dạng sinh học tại Việt Nam

        Đa dạng sinh học ở Việt Nam đứng thứ 16 trên thế giới [1, 3]. Theo Báo cáo quốc gia lần thứ 6 đối với Công ước Ða dạng sinh học, Việt Nam có khoảng 51.400 loài sinh vật, bao gồm 7.500 chủng vi sinh vật; 20 nghìn loài thực vật trên cạn và dưới nước; khoảng 10.900 loài động vật trên cạn; 2.000 loài động vật không xương sống và cá nước ngọt; và hơn 11 nghìn loài sinh vật biển khác [3]. Trong đó, nhiều loài có giá trị lớn cho việc bảo tồn, đóng góp cho khoa học và khẳng định tầm quan trọng toàn cầu của đa dạng sinh học Việt Nam như: Sao la, cheo cheo lưng bạc, mang lớn, mang Trường Sơn, thỏ vằn, voi châu Á, bò rừng, hổ, báo, hươu sao, các loài linh trưởng, các loài rùa biển và rùa cạn... Hiện các loài hoang dã chủ yếu được bảo tồn tại chỗ trong các khu bảo tồn thiên nhiên nằm trong hệ thống rừng đặc dụng [2, 4, 6].

        Các con số thống kê nêu trên chưa thực sự phản ánh đầy đủ tính đa dạng sinh học của Việt Nam, khi mà số lượng loài mới được phát hiện không ngừng tăng nhanh trong những năm gần đây. Điều đó chứng minh nguồn tài nguyên về đa dạng loài động, thực vật ở Việt Nam chưa thực sự được hiểu biết đầy đủ

        Tuy nhiên, tính đa dạng sinh học ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, về động vật: có 4 loài đã tuyệt chủng, 5 loài tuyệt chủng trong thiên nhiên, 48 loài rất nguy cấp và 113 loài nguy cấp; về thực vật: có 37 loài rất nguy cấp, 178 loài nguy cấp. Số lượng các giống, chủng động, thực vật được nuôi trồng phục vụ sản xuất nông, lâm, thủy sản, y tế… đã mất đi khá nhanh, trong đó có nhiều giống quý [6].

        Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam, cả trực tiếp và gián tiếp, như khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, khai thác gỗ trái phép, buôn bán trái phép các loài hoang dã, các hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng thâm canh nông nghiệp, cũng như các hoạt động sản xuất kinh tế khác nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng của con người [7].

        Trong đó, hoạt động sản xuất của con người là một trong những tác nhân lớn nhất gây nên mất đa dạng sinh học, trong đó, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản ảnh hưởng rất lớn đối với suy giảm đa dạng sinh học tại Việt Nam. Đây là kết luận quan trọng của báo cáo “Đánh giá Đa dạng sinh học tại Việt Nam” do Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam (WWF-Việt Nam) và Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng Sinh học (BCA) thực hiện [7].

Xây dựng tương lai cho mọi sự sống

        Ðể khắc phục tình trạng trên, theo quan điểm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay cần phải có những hành động chiến lược để bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi các nghĩa vụ quốc tế.

        Năm 2022 có ý nghĩa rất quan trọng với việc Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2020 đã chính thức được áp dụng từ ngày 1/1/2022. Đây cũng là giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ trong việc bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu cao nhất cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân, cân bằng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế bền vững.

        Đặc biệt, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 07/02/2022) đặt mục tiêu đến năm 2030 gia tăng diện tích các hệ sinh thái tự nhiên được bảo vệ, phục hồi và bảo đảm tính toàn vẹn, kết nối; đa dạng sinh học được bảo tồn, sử dụng bền vững nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng nền kinh tế xanh, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

        Trong đó, diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên đất liền phấn đấu đạt 9% diện tích lãnh thổ đất liền; diện tích các vùng biển, ven biển được bảo tồn đạt từ 3 - 5% diện tích vùng biển tự nhiên của quốc gia; 70% khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên được đánh giá hiệu quả quản lý; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc duy trì ổn định từ 42% - 43%; phục hồi được ít nhất 20% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái.

        Bảo tồn hiệu quả các loài hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài di cư; không có thêm loài hoang dã bị tuyệt chủng; tình trạng quần thể của ít nhất 10 loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được cải thiện; các nguồn gen hoang dã và giống cây trồng, vật nuôi được lưu giữ và bảo tồn đạt mục tiêu thu thập, lưu giữ tối thiểu 100.000 nguồn gen; hạn chế các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học.

        Để thực hiện việc bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học, Việt Nam xác định 3 giải pháp lớn nhằm quản lý hiệu quả hệ thống di sản thiên nhiên, khu bảo tồn; Củng cố và mở rộng các khu vực tự nhiên có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị suy thoái. Cụ thể:

        Quản lý hiệu quả hệ thống di sản, khu bảo tồn

        Để mở rộng và nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên và hành lang đa dạng sinh học, Việt Nam sẽ tập trung vào thực hiện hàng loạt các giải pháp về chính sách, thể chế.

        Đó là, thực hiện hiệu quả Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trên cơ sở các quy hoạch được phê duyệt, tiếp tục củng cố và mở rộng hệ thống di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên; thúc đẩy thành lập các khu bảo tồn đất ngập nước và biển; thành lập và quản lý bền vững các hành lang đa dạng sinh học kết nối giữa các khu bảo tồn thiên nhiên.

        Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ xây dựng, ban hành các tiêu chí và tổ chức thực hiện đánh giá hiệu quả quản lý di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên; hướng dẫn đăng ký công nhận các khu bảo tồn thiên nhiên trong “Danh lục Xanh” toàn cầu.

        Xây dựng các quy định, hướng dẫn bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên, bồi hoàn đa dạng sinh học, chính sách đầu tư cho di sản thiên nhiên, khu bảo tồn đất ngập nước, khu bảo tồn biển; xây dựng chính sách chuyển đổi nghề, hỗ trợ thực hiện mô hình sinh kế hộ gia đình bền vững của cộng đồng dân cư sinh sống hợp pháp trong vùng đệm cũng là những chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

Gìn giữ những giá trị đa dạng sinh học quý của thế giới

        Để thực hiện nhiệm vụ này, Việt Nam tiếp tục xây dựng hành lang pháp lý để quản lý các di sản thiên nhiên được tổ chức quốc tế công nhận, các khu dự trữ sinh quyển thế giới theo hướng quản lý tổng hợp, có sự tham gia của các bên liên quan; bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội, phát huy các nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

        Tiếp tục nghiên cứu, đề cử công nhận danh hiệu quốc tế về đa dạng sinh học; rà soát, đánh giá các khu vực đạt tiêu chí công nhận các danh hiệu quốc tế, chú trọng các khu vực đại diện cho vùng sinh thái, các khu vực biển, đảo trong việc đề cử các khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế Ramsar, di sản thiên nhiên thế giới, vườn di sản ASEAN; thành lập và tăng cường năng lực mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển, di sản thiên nhiên thế giới, khu Ramsar, vườn di sản ASEAN.

        Phục hồi các hệ sinh thái

        Hàng loạt các hệ sinh thái đang bị suy thoái sẽ được lên kế hoạch phục hồi như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, trong đó ưu tiên tập trung ở các khu bảo tồn biển; khoanh vi bảo vệ để phục hồi tự nhiên các khu vực có rạn san hô, thảm cỏ biển đang bị suy thoái.

        Đồng thời sẽ áp dụng các biện pháp khoanh nuôi tái sinh, phục hồi tự nhiên các hệ sinh thái bị suy thoái trong các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu vực đa dạng sinh học cao, hành lang đa dạng sinh học; xây dựng các quy trình và hướng dẫn kỹ thuật phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái, đặc biệt các hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022), Công văn và tài liệu hướng dẫn tổ chức các hoạt động Ngày Quốc tế đa dạng sinh học 2022.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Báo cáo giữa kỳ về tình hình thực hiện Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến 2020, tầm nhìn đến 2030.

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018, Báo cáo đa dạng sinh học quốc gia.

4. Hoàng Thị Thanh Nhàn (2021), Kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và định hướng Chiến lược đến năm 2030, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, kỳ 2, tháng 8/2020.

5. IPBES (2021), Báo cáo đánh giá toàn cầu về đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái. IUCN-Việt Nam.

6. Lê Xuân Cảnh (2021), Hiện trạng hệ sinh thái ở Việt Nam: những thách thức và đề xuất một số giải pháp phục hồi. Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng Việt III/2021.

7. WWF-Việt Nam, Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng Sinh học (2021), Đánh giá đa dạng sinh học tại Việt Nam.