Viện Địa lí nhân văn tổ chức nghiệm thu hệ đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2019

08/11/2019

    Sáng ngày 06-07/11/2019, tại hội trường tầng 6, số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Địa lí nhân văn với sự đại diện của Ban Quản lí Khoa học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu hệ đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2019. Các Hội đồng nghiệm thu đã làm việc nghiêm túc, khách quan và khẩn trương trong quá trình bình xét, nghiệm thu hệ đề tài; kết quả, đánh giá chung cho thấy: các đề tài đều được thực hiện đúng tiến độ kế hoạch, đạt chất lượng. Đây là động lực thúc đẩy, khích lệ, đảm bảo cho sự thành công hơn cho hệ đề tài khoa học cấp cơ sở của Viện Địa lí nhân văn sẽ được thực hiện trong năm 2020.

Toàn cảnh buổi nghiệm thu

1. Đề tài: Xây dựng bản đồ phục vụ phát triển du lịch tỉnh Cao Bằng

Chủ nhiệm đề tài:       ThS. Đặng Thành Trung

Thành viên tham gia:  ThS. Lê Thu Quỳnh

                                    ThS. Nguyễn Thị Bích Hạnh

                                    CN. Nghiêm Văn Khoa

        Cao Bằng là tỉnh nằm phía Đông Bắc Việt Nam, hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài trên 333 km. Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.724,62 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m. Cao Bằng được thiên nhiên ưu đãi và ban tặng nhiều danh lam, thắng cảnh tuyệt đẹp như thác Bản Giốc, hồ Thang Hen và đỉnh núi Phja Oắc hùng vĩ. Địa thế với núi rừng hùng vĩ và hiểm trở đã được các thế hệ người Việt Nam chọn là căn cứ kháng chiến chống giặc ngoại xâm như: Di tích thành nhà Mạc, di tích lịch sử Pác Bó nơi Bác Hồ về nước sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài; Khu rừng Trần Hưng Đạo, nơi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; Núi Báo Đông - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch Biên giới năm 1950... Đây là điều kiện thuận lợi để tỉnh Cao Bằng phát triển du lịch - dịch vụ một cách bền vững trong tương lai và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh.

        Hệ thống bản đồ du lịch của tỉnh Cao Bằng hầu như chưa có, chỉ có một bản đồ giấy được xây dựng năm 2010 nhưng khá sơ sài và đã lâu không được cập nhật nên không theo sát được quá trình phát triển du lịch hiện nay của tỉnh nhất là sau khi công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu. Các thông tin về du lịch của tỉnh cũng như hệ thống thông tin về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các tài nguyên nhân văn chưa được hệ thống hóa, phân tán nhiều nơi, đặc biệt các thông tin gắn với cơ sở dữ liệu và bản đồ phục vụ công tác quản lý, định hướng và phát triển du lịch còn thiếu đồng bộ, độ tin cậy chưa cao. Điều này đòi hỏi cần có một phương pháp và phương tiện lưu trữ, quản lý các loại cơ sở dữ liệu trên một cách khoa học, có hệ thống để xử lý và khai thác thông tin có hiệu quả. Trên cơ sở đó, việc thực hiện đề tài “Xây dựng Bản đồ phục vụ phát triển du lịch tỉnh Cao Bằng” là thật sự cần thiết.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Làm rõ thực trạng nguồn lực phát triển du lịch của tỉnh Cao Bằng; (2) Làm rõ thực trạng phát triển du lịch tỉnh Cao Bằng; (3) Xây dựng hệ thống bản đồ phục vụ phát triển du lịch tỉnh Cao Bằng.

        Nội dung của đề tài gồm 3 phần chính. Trong phần thứ nhất, đề tài đã trình bày cơ sở lý luận về xây dựng bản đồ phục vụ phát triển du lịch, bao gồm các khái niệm cơ bản về bản đồ, nguyên tắc, mục đích và ý nghĩa của thành lập bản đồ, hệ thống bản đồ chuyên đề về du lịch; một số khái niệm cơ bản của du lịch; các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch, các loại hình du lịch và các nhân tố ảnh hưởng đến du lịch; ngoài ra, đề tài còn nêu một số ứng dụng của GIS trong nghiên cứu và phát triển du lịch.

        Trong phần thứ hai, đề tài đã khái quát các nguồn lực để phát triển du lịch như: vị trí địa lý, tài nguyên du lịch tự nhiên, nhân văn; Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh: lượng khách du lịch, hiện trạng các cơ sở vật chất phục vụ du lịch, nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch; Từ đó, đề tài có đưa ra một số định hướng cho sự phát triển của du lịch Cao Bằng: theo các tiểu vùng, theo cụm hay theo các tuyến du lịch.

        Trong phần thứ ba, đề tài đã nêu các bước cơ bản để xây dựng hệ thống bản đồ phục vụ phát triển du lịch của tỉnh Cao Bằng: cơ sở dữ liệu được sử dụng, cơ sở toán học; quy trình thực hiện để xây dựng các bản đồ. Từ đó đề tài đã xây dựng được một hệ thống bản đồ chuyên đề phục vụ phát triển du lịch của tỉnh Cao Bằng gồm 1 sơ đồ và 7 bản đồ, cụ thể:

        Sơ đồ vị trí của du lịch Cao Bằng trong khu vực

        Bản đồ hành chính tỉnh Cao Bằng

        Bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Cao Bằng

        Bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Cao Bằng

        Bản đồ giao thông tỉnh Cao Bằng

        Bản đồ cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tỉnh Cao Bằng

        Bản đồ hiện trạng du lịch tỉnh Cao Bằng

        Bản đồ định hướng phát triển du lịch tỉnh Cao Bằng

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Xuất sắc với số điểm trung bình 92,8 /100.

Lê Thu Quỳnh

2. Đề tài: Vùng động lực trong phát triển: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hòa Bình

Chủ nhiệm đề tài:      ThS. Bùi Thị Cẩm Tú

Thành viên tham gia: TS. Ngô Minh Đức

                                   CN. Nguyễn Thị Hằng

        Vùng động lực trong phát triển đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ vị trí dẫn dắt, làm đầu tàu tạo động lực cho sự phát triển của toàn vùng cũng như của lãnh thổ. Về mặt lý luận, các nghiên cứu về vùng động lực nói chung và vùng động lực ở nước ta nhìn chung còn khá mới mẻ. Trên thực tiễn, ở Việt Nam, tỉnh Hòa Bình là địa phương đi đầu cả nước đưa ra chiến lược phát triển vùng động lực. Do đó, đề tài lựa chọn vùng động lực trong phát triển làm chủ đề nghiên cứu, đồng thời, chọn vùng động lực tỉnh Hòa Bình làm cơ sở thực tiễn để đánh giá.

        Đề tài đã sử dụng cách tiếp cận các lý thuyết (lợi thế cạnh tranh, liên kết vùng, cực tăng trưởng….) để làm rõ khái niệm, nội hàm của vùng động lực. Đồng thời, sử dụng cách tiếp cận tổng hợp và hệ thống để phân tích, đánh giá thực trạng của vùng động lực tỉnh Hòa Bình.

        Trong phần thứ nhất, đề tài đã trình bày các khái niệm liên quan tới vùng động lực (vùng, vùng kinh tế - xã hội, vùng kinh tế trọng điểm, cực tăng trưởng) từ đó rút ra khái niệm về vùng động lực trong phát triển. Đồng thời, đề tài cũng đã phân tích được các điều kiện hình thành cũng như các yếu tố tạo nên thành công của vùng động lực trong phát triển và rút ra được các kinh nghiệm từ các lý thuyết có thể vận dụng vào xây dựng vùng động lực.

        Trong phần thứ hai, đề tài đã khái quát điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình, phân tích tình hình phát triển về kinh tế của vùng động lực tỉnh Hòa Bình. Trên cơ sở thực trạng, đề tài sử dụng công cụ SWOT để chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà vùng đang gặp phải.

        Trong phần thứ ba, đề tài chỉ ra cách vận dụng các lý thuyết về vùng động lực vào thực tiễn để đánh giá thực trạng phát triển vùng động lực kinh tế tỉnh Hòa Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế trong vùng động lực đối với toàn tỉnh và tăng cường vai trò lan tỏa tới các địa phương khác.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 71,6 /100.

Nguyễn Thị Hằng

3. Đề tài: Thực trạng văn hóa đọc tại một số thư viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Chủ nhiệm:                 ThS. Mai Hải Linh

Thành viên tham gia: ThS. Nguyễn Thị Ngọc

                                    CVC. Nguyễn Ngọc Trí

        Văn hóa đọc có vai trò rất quan trọng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có hoạt động nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu văn hóa đọc để hiểu rõ bản chất của văn hóa đọc trong thời hiện đại bởi văn hóa đọc ngày nay đã có sự chuyển dịch, phát triển ở tầm cao hơn. Tài liệu đọc không chỉ bó hẹp trong phạm vi sách mà phát triển ở nhiều hình thức vật mang tin, loại hình tài liệu khác nhau. Đọc sách không chỉ là để ghi nhớ kiến thức trong sách mà còn phải biết ứng dụng tri thức đã đọc vào thực tiễn cuộc sống.

        Việc phát triển văn hóa đọc đối với các cán bộ nghiên cứu khoa học tại các viện nghiên cứu đã trở thành một yêu cầu tất yếu khách quan bởi nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải đọc nhiều và đọc thường xuyên mới mang lại kết quả nghiên cứu có chất lượng. Trong đó, thư viện giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp tài liệu, tổ chức các loại hình tài liệu phù hợp với nhu cầu nghiên cứu của Viện nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu đọc của cán bộ nghiên cứu.

        Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về văn hóa đọc, đề tài góp phần làm rõ khái niệm văn hóa đọc, phát triển văn hóa đọc, các thành tố của văn hóa đọc cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa đọc. Văn hóa đọc giúp nâng cao khả năng định hướng đến tài liệu, nâng cao kỹ năng đọc và lĩnh hội sâu sắc các giá trị nội dung trong tài liệu, giúp chúng ta thái độ ứng xử tốt với tài liệu do đó sẽ giúp cho các cán bộ nghiên cứu đáp ứng được yêu cầu chất lượng trong nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, thông qua điều tra bằng bằng hỏi tại một số Viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (KHXHVN), nhóm nghiên cứu đã phân tích thực trạng và các yếu tố tác động tới văn hóa đọc của cán bộ nghiên cứu như: khả năng định hướng tới tài liệu, năng lực lĩnh hội tài liệu, thái độ ứng xử với tài liệu, vốn tài liệu, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ thư viện…. Đề tài đã chỉ ra được những yếu tố thuận lợi, những khó khăn và hạn chế trong việc phát triển văn hóa đọc ở các thư viện thuộc Viện Hàn lâm KHXHVN hiện nay. Từ đó, đưa ra một số giải pháp như: Tăng cường và phát triển các nguồn thông tin đặc biệt là nguồn thông tin số; Phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện; Tăng cường cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin - thư viện; Nâng cao trình độ về công nghệ thông tin cho cán bộ thư viện; Cần có chính sách quan tâm hơn đối với hoạt động thư viện, tạo nguồn kinh phí hợp lý trong công tác bổ sung tài liệu, tạo điều kiện cho cán bộ thư viện được tham gia các lớp tập huấn và đào tạo công nghệ thông tin; Khuyến khích các hoạt động tuyên truyền văn hóa đọc, tổ chức các buổi hoạt động đọc tại Viện theo tháng để cùng nhau thảo luận và đưa ra những kinh nghiệm đọc có hiệu quả… nhằm thúc đẩy sự phát triển văn hóa đọc hơn nữa đối với cán bộ nghiên cứu tại Thư viện thuộc Viện Hàn lâm KHXHVN.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu có liên quan tiếp theo về văn hóa đọc không chỉ ở trong các thư viện của Viện Hàn lâm KHXHVN mà còn ở các bộ ngành khác.

        Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 87,6/100.

Nguyễn Thị Ngọc

4. Đề tài: Một số vấn đề thực hiện chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Cà Mau

Chủ nhiệm đề tài:      NCS. Hà Huy Ngọc

Thành viên tham gia:ThS. Phạm Mạnh Hà

        Cà Mau là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, theo kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) năm 2016 cho thấy tỉnh Cà Mau sẽ chịu nhiều tổn thất to lớn, mực nước biển dâng sẽ làm gia tăng diện tích bị ảnh hưởng bởi mặn có nồng độ cao so với hiện nay. Để hỗ trợ tỉnh Cà Mau ứng phó với BĐKH, ngoài việc triển khai thực hiện các cơ chế chính sách chung, Chính phủ, Bộ, ngành và các địa phương trong vùng đã xây dựng và ban hành nhiều cơ chế chính sách mang tính đặc thù cho vùng và địa phương, có gắn kết trực tiếp và gián tiếp đến tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm: (i) Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chính sách tài chính cho ứng phó với BĐKH; (ii) Phân tích đánh giá được thực trạng thực hiện chính sách tài chính cho ứng phó với BĐKH ở tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2019 (iii) Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho ứng phó với BĐKH ở tỉnh Cà Mau trong giai đoạn tới.

        Nội dung của đề tài gồm 3 chương. Trong chương thứ nhất, đề tài đã nêu lên các khái niệm liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu; Phân tích vai trò, các nhân tố ảnh hưởng, tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu và đề cập đến kinh nghiệm về thực hiện chính sách tài chính cho biến đổi khí hậu của một số quốc gia trên thế giới (Hàn Quốc, Thái Lan, Hà Lan), từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

        Trong chương thứ 2, đề tài đã nêu lên một số ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tỉnh Cà Mau như việc gia tăng hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển, giảm năng suất cây trồng, suy giảm năng suất nuôi trồng thủy sản và nghề cá. Tỉnh Cà Mau đang phải đối mặt với những thách thức lớn nhất do thiên tai và BĐKH gây ra. Các biểu hiện của BĐKH và thiên tai ngày càng dị thường, trái quy luật và ảnh hưởng ngày càng tiêu cực đến kinh tế - xã hội - môi trường và sinh kế của địa phương. Do đó, việc hoạch định và thực thi chính sách tài chính cho BĐKH có vai trò rất lớn trong việc hạn chế những rủi ro, thảm hoạ do BĐKH gây ra cho địa phương.

        Khung chính sách tài chính ứng phó với BĐKH đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương với hơn 28 văn bản quy pháp pháp luật dưới các hình thức khác nhau, để thực hiện huy động, phân bổ và sử dụng, kiểm tra nguồn lực tài chính cho BĐKH ở địa phương. Kết quả của việc triển khai thực hiện chính sách là Trung ương đã ưu tiên phân bổ vốn đầu tư khá lớn ngân sách cho các nhiệm vụ, dự án cấp bách về ứng phó với BĐKH ở tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện chính sách tài chính ứng phó với BĐKH ở tỉnh Cà Mau đã bộc lộ những bất cập, hạn chế như: các chính sách tài chính ứng phó với BĐKH hiện hành còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ; sự phân công, phối hợp giữa các chủ thể trong thực hiện chính sách ứng phó BĐKH chưa rõ ràng, kém hiệu lực thực hiện; các nhiệm vụ, dự án về ứng phó với BĐKH thời gian qua hầu hết được thiết kế tập trung vào lĩnh vực giải pháp công trình; nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH không bền vững, chủ yếu dựa vào nguồn đầu tư công của Chính phủ, nguồn vay viện trợ ODA, thiếu sự tham gia đóng góp của khu vực tư nhân, cộng đồng.

        Trong chương thứ 3, đề tài đã đưa ra một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở tỉnh Cà Mau như: đổi mới khâu xây dựng và ban hành chính sách tài chính BĐKH; đổi mới cơ chế huy động nguồn lực tài chính cho BĐKH; đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính cho BĐKH; đổi mới cơ chế phối hợp thực hiện chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu.     

        Kết quả của đề tài đã nêu được bức tranh khá đầy đủ và chi tiết về việc thực hiện chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp có thể ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 84,6 /100.

Mai Hải Linh

5. Đề tài: Nghiên cứu cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang ở Lào Cai phục vụ phát triển du lịch

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Hòa

Thành viên đề tài: ThS. Đinh Thị Lam

                              ThS. Lê Hồng Ngọc

        Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới có địa hình rất phức tạp và hiểm trở, phân tầng độ cao lớn với mức độ chia cắt rất mạnh, khí hậu rất khắc nghiệt với những tiểu vùng khí hậu không giống nhau, diễn biến thời tiết có sự khác biệt theo không gian và thời gian. Vì những đặc điểm tự nhiên như vậy nên người dân vùng núi Lào Cai đã sáng tạo ra ruộng bậc thang để khắc phục được những bất lợi của địa hình, tạo thuận lợi cho việc canh tác. Ruộng bậc thang là một sự sáng tạo của người dân thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, giá trị vật chất và các giá trị tinh thần biểu trưng được sáng tạo và tích lũy qua quá trình sinh tồn, là kết quả của sự tương tác giữa cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Lào Cai với môi trường tự nhiên.

        Ruộng bậc thang ở Lào Cai ngày nay đã và đang góp phần tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo cho vùng, mang lại nhiều giá trị kinh tế - xã hội thông qua việc khai thác cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang phục vụ cho các hoạt động du lịch. Ruộng bậc thang ở Lào Cai là điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế khi tới thăm vùng núi phía Bắc Việt Nam. Với những giá trị to lớn về kinh tế, văn hóa và môi trường mà ruộng bậc thang mang lại, việc nghiên cứu cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang ở Lào Cai để phục vụ phát triển du lịch là điều cần thiết để biết được thực trạng cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị của ruộng bậc thang ở Lào Cai phục vụ phát triển du lịch, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nơi đây.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (i) Làm rõ cơ sở lý luận về nghiên cứu cảnh quan văn hóa; (ii) Nghiên cứu cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang ở Lào Cai; (iii) Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang ở Lào Cai phục vụ phát triển du lịch.

        Trong nội dung chương 1, đề tài đã làm rõ các khái niệm và lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu như: “Cảnh quan văn hóa”, “cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang và du lịch”; cùng với các lý thuyết  như thuyết “cấu trúc - chức năng”, “thuyết xung đột” và các lý thuyết về “du lịch văn hóa”. Dựa trên nền tảng lý thuyết đó, nhóm tác giả áp dụng vào phân tích thực trạng nghiên cứu đề tài.

        Trong nội dung chương 2, đề tài đã khái quát được các đặc điểm địa lí tự nhiên của cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang tại Lào Cai; thể hiện được mối quan hệ và sự tương tác giữa tự nhiên và văn hóa gắn liền với ruộng bậc thang ở Lào Cai, người dân bản địa tự lựa chọn địa hình, đất đai, giống cây trồng, khoảng cách phân bố, kĩ thuật canh tác ruộng bậc thang của mình sao cho phù hợp với tự nhiên và văn hóa của địa phương, sản phẩm của mối quan hệ đó là những thửa ruộng bậc thang trùng điệp hòa vào với nhau mang đậm những sáng tạo riêng của người dân nơi đây, ruộng bậc thang không chỉ chứa đựng giá trị về vật chất mà nó còn có cả giá trị về tinh thần; vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín thì ruộng bậc thang ở Lào Cai thu hút một lượng khách du lịch khá đông đảo về thăm quan, ngắm cảnh, vui chơi, trải nghiệm, tuy nhiên các hoạt động này hầu như là hoạt động tự phát, chưa trở thành điểm và/hoặc tuyến du lịch, chưa có các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch (như điểm dừng chân ngắm cảnh, cơ sở lưu trú...), môi trường ô nhiễm, chưa có sự vào cuộc của cơ quan Nhà nước trong quản lý và bảo tồn cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang.

        Trong nội dung chương 3, đề tài chỉ ra những tồn tại trong công tác bảo tồn cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang như: thể chế, chính sách, quy hoạch, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuyên truyền.... từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển cảnh quan văn hóa ruộng bậc thang ở Lào Cai phục vụ phát triển du lịch.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài là một công trình nghiên cứu về địa lý văn hóa. Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về quản lý và khai thác, bảo tồn tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung của các địa phương hướng đến phát triển bền vững.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 80,6 /100.

Đinh Thị Lam

6. Đề tài: Tiếp cận sinh thái nhân văn trong quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên

Chủ nhiệm đề tài:     ThS. Nguyễn Thị Thu Hà

Thành viên tham gia: TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt

                                   ThS. Cao Thị Thanh Nga

                                   ThS. Nguyễn Thị Huyền Thu    

        Trước đây, các khu bảo tồn thường được xem như một cái “chai nút kín”, đó là sự tách biệt một khu vực tự nhiên ra khỏi hoạt động của con người. Các mô hình thực hành bảo tồn thiên nhiên bộc lộ nhiều hạn chế do không tính đến lợi ích của người dân hoặc tạo ra nhiều xung đột lợi ích giữa các nhóm cộng đồng. Trong bối cảnh đó, tiếp cận sinh thái nhân văn trong quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên đã xem xét tổng thể các yếu tố có liên quan trong một cấu trúc có hệ thống nhằm xem xét các khoảng trống từ đó đề xuất giải pháp quản lý bền vững.

        Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Thần Sa - Phượng Hoàng  được quy hoạch theo ranh giới trên địa bàn 7 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Võ Nhai với tổng diện tích tự nhiên là 18.858,9 ha và 25.195 nhân khẩu[1] sinh sống tại vùng lõi và vùng đệm của khu bảo tồn, chủ yếu thuộc các dân tộc Tày, Dao, Nùng, Kinh, Mông, Cao Lan, Sán Dìu. 85,7% cộng đồng dân cư tại đây sống bằng nông nghiệp và nghề rừng, thu hái lâm sản ngoài gỗ[2]. Ngoài ra khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng nằm giáp ranh với 2 tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn được coi là “tam giác vàng” của lâm tặc phá rừng. Tại khu bảo tồn này, các mâu thuẫn nội tại xuất phát từ các vấn đề xã hội như sinh kế của người dân; quản lý liên ngành, hệ thống; vấn đề quy hoạch trở nên vô cùng quan trọng quyết định tới công tác quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học. Vì vậy, trong quản lý thì khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng cần một phương pháp tiếp cận hệ thống và liên ngành, nhằm xem xét toàn diện các thành phần cấu trúc cùng các mối quan hệ nội tại làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý bền vững. Sinh thái nhân văn là khoa học liên ngành, là một cách tiếp cận cho phép giải quyết các vấn đề phức tạp như vậy.

       Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm: (i) Làm rõ cơ sở lí luận tiếp cận sinh thái nhân văn trong quản lý khu BTTN; (ii) Phân tích thực trạng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên dưới tiếp cận sinh thái nhân văn; (iii) Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên.

       Nội dung của đề tài gồm 3 chương. Trong chương 1, đề tài đã trình bày các khái niệm liên quan như sinh thái nhân văn, khu bảo tồn thiên nhiên; phân tích nội hàm tiếp cận sinh thái nhân văn trong quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý khu bảo tồn thiên nhiên ở một số khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới (khu bảo tồn Ehi-rovipuka) và ở Việt Nam (Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Phong Điền, Na Hang, Ngọc Sơn) và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.

        Trong chương 2, đề tài đã khái quát thực trạng hệ sinh thái nhân văn và công tác quản lý tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, phân tích các mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ sinh thái nhân văn. Đề tài cũng đã phân tích được những mối quan hệ giữa các bên liên quan trong việc quản lý khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng như ban quản lý khu bảo tồn, chính quyền địa phương, hạt kiểm lâm, mối quan hệ với người dân, ... Đặc biệt, đề tài đã dùng phương pháp phân tích SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quản lý khu bảo tồn theo hướng tiếp cận sinh thái nhân văn. Từ đó đưa ra những giải pháp hữu ích để quản lý khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.

        Trong chương 3, trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý, đề tài đã đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm quản lý bền vững khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng bao gồm: nhóm giải pháp quản lý hệ thống và toàn diện (quy hoạch phân định ranh giới với đất sử dụng của người dân, tài chính cho công tác quản lý, nguồn nhân lực ...); nhóm giải pháp nâng cao đời sống cho cộng đồng địa phương; nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học, nhóm giải pháp công trình.

        Nhìn chung, đề tài đã nêu được bức tranh khá đầy đủ và chi tiết về cấu trúc và thành phần của hệ tự nhiên và xã hội, hệ thống quản lý cũng như phân tích mối quan hệ giữa các bên trong công tác quản lý của khu bảo tồn, từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng theo tiếp cận sinh thái nhân văn trong thời gian tới.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 83,6 /100.

                                                                                                   Cao Thị Thanh Nga



[1] Niên giám thống kê huyện Võ Nhai, 2018

[2] Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, 2018

 

 

Các tin cũ hơn.............................