Nghiệm thu cấp cơ sở Nhiệm vụ cấp Bộ thuộc nguồn sự nghiệp bảo vệ môi trường: “Khảo sát đánh giá vai trò của văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường ở làng nghề hiện nay và đề xuất giải pháp” 11/12/2020

   Thực hiện Quyết định số 133/QĐ-VĐLNV ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Viện Địa lí nhân văn về việc thành lập Hội đồng cấp cơ sở nghiệm thu nhiệm vụ cấp Bộ thuộc nguồn sự nghiệp bảo vệ môi trường, chiều ngày 11 tháng 12 năm 2020, Viện Địa lí nhân văn đã tổ chức nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ Khảo sát đánh giá vai trò của văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường ở làng nghề hiện nay và đề xuất giải pháp” do TS. Trần Ngọc Ngoạn làm chủ nhiệm và Viện Địa lí nhân văn là cơ quan chủ trì.

Toàn cảnh buổi nghiệm thu

        Làng nghề là một trong những nét đặc thù của nông thôn Việt Nam, trong những năm qua, các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết việc làm cho nhiều người dân địa phương cả nước, góp phần đáng kể trong giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Gần đây, số hộ sản xuất và cơ sở nghề ở nông thôn đang ngày một tăng lên trong khi trang thiết bị, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu đã gây ra ô nhiễm môi trường làng nghề trầm trọng. Mặc dù, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về những vấn đề liên quan đến quản lý và BVMT làng nghề. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT trong hoạt động sản xuất làng nghề chỉ dừng lại ở mức độ rất khiêm tốn, nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở kinh tế, làng nghề vẫn không thi hành, không thực hiện, thậm chí cố tình vi phạm (nhiều khi tái vi phạm ở mức độ nghiêm trọng hơn, tinh vi hơn) nên  tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề đang ngày một gia tăng.

        Bên cạnh các quy định quy phạm pháp luật của Nhà nước, hệ thống các quy định cùng khả năng điều chỉnh hành vi của dư luận xã hội và các tổ chức xã hội đã và đang thể hiện được vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ môi trường. Nhiều quy định, cách ứng xử của con người với môi trường đang từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện cuộc sống mới, như: các bản hương ước mới, các bản quy ước bảo vệ môi trường ở các làng của người Việt, hay chính trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người...

        Các quy định, quy ước, hương ước riêng của làng/xã, vừa phản ánh tâm lý của dân làng/bản, vừa phản ánh phương diện quan trọng của văn hoá và nếp sống mới của làng, bản; vừa uốn nắn con người vào khuôn phép, vừa động viên con người hành động. Sức mạnh cưỡng chế của quy ước, hương ước dựa vào lề thói, nếp sống quen thuộc của cộng đồng, vào hệ ý thức cộng đồng. Đó là sức mạnh có tính tâm lý nằm sâu trong tiềm thức của mọi người trong làng, bản. Điều này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường nói chung và BVMT làng nghề nói riêng. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc đánh giá vai trò của văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường làng nghề, khai thác các yếu tố tích cực của văn hóa cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường làng nghề hiện nay.

        Mục tiêu của nhiệm vụ nhằm: (1) Làm rõ cơ sở lý thuyết về vai trò của văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường làng nghề; (2) Đánh giá thực trạng vai trò của văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường làng nghề hiện nay và (3) Đề xuất giải pháp cho việc tăng cường vai trò và giá trị của văn hóa cộng đồng trong BVMT ở các làng nghề nước ta.

         Nội dung báo cáo tổng kết của nhiệm vụ gồm 3 phần. 

        Trong phần 1, nhiệm vụ đã trình bày một số vấn đề lý thuyết về văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường làng nghề bao gồm các nội dung như khái niệm văn hóa, văn hóa cộng đồng, văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường, các nguyên tắc ứng xử cộng đồng và các phương thức ứng xử cộng đồng. Nhiệm vụ đã phân tích được các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan tác động đến văn hóa cộng đồng trong bảo vệ môi trường làng nghề. Về phương diện khách quan, đó là các yếu tố: Điều kiện địa lý tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội; văn hóa truyền thống; hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ môi trường; vai trò quản lý nhà nước và vai trò của các đoàn thể xã hội trong bảo vệ môi trường,... Về phương diện chủ quan, đó là các yếu tố gắn với chủ thể văn hóa cộng đồng, thể hiện ở trình độ tri thức, nghề nghiệp, lứa tuổi,... và tâm lý của cộng đồng trong bảo vệ môi trường.

        Trong phần 2, trên cơ sở khảo sát, điều tra 1.530 phiếu hỏi đối với cộng đồng dân cư tại 32 làng nghề ở 8 tỉnh/thành phố, nhiệm vụ đã phân tích được thực trạng ô nhiễm môi trường và việc quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn, tìm hiểu những thông tin về các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường dựa trên văn hóa cộng đồng đã được thực hiện trong quá khứ. Kết quả cho thấy các hương ước/quy ước là loại nguyên tắc ứng xử mang lại hiệu quả cao nhất bởi hương ước/quy ước được chính nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng và tự giác chấp hành. Tiếp đó là các quy định của pháp luật về BVMT bởi có chế tài xử phạt cụ thể thì dễ thực hiện hơn và người dân sẽ thay đổi hành vi được nhanh hơn so với thực hiện hương ước/quy ước. Nhóm nghiên cứu cho rằng hình thức đem lại hiệu quả cao nhất là Quy ước Bảo vệ môi trường bởi nó là sự kết hợp giữa hương ước/quy ước (được nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng) và các quy định pháp luật về BVMT (các quy định, chế tài xử phạt…) nhưng hiện tại chưa có nhiều địa phương áp dụng được loại nguyên tắc ứng xử này và đây là hình thức cần được nhân rộng để công tác BVMT ở các làng nghề và từng thôn xóm đạt hiệu quả. Về thực trạng vai trò của phương thức ứng xử của cộng đồng trong BVMT làng nghề cho thấy rằng trong những năm gần đây nhận thức, ý thức của người dân nói chung và những người làm nghề nói riêng về BVMT làng nghề đã được nâng lên. Từ việc nhận thức, ý thức đúng về BVMT nên hành vi BVMT của những người dân trong làng nghề tại các địa bàn khảo sát nhìn chung là tương đối tốt. Trong quá trình sản xuất, làm nghề, các cá nhân, hộ gia đình, cơ sở sản xuất làm nghề đã có cố gắng giảm thiểu tối đa các tác hại đến môi trường từ quá trình sản xuất của gia đình/cơ sở mình. Do đặc thù của làng nghề là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và phân bố rải rác, xen kẽ lẫn trong dân cư nên việc tập trung xử lý chất thải sau sản xuất không phải là vấn đề đơn giản và cần có sự chung tay giúp sức của nhiều phía.               

        Trong phần 3, trên cơ sở phân tích thực trạng trong phần 2, nhiệm vụ đã rút ra được những kết quả và đưa ra được những giải pháp nhằm tăng cường vai trò và giá trị xã hội của văn hóa cộng đồng trong BVMT ở các làng nghề nước ta.

        Nhiệm vụ đã được Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở đánh giá cao và đồng ý nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm.

                                                                                             Nguyễn Thị Huyền Thu

 


Các tin cũ hơn.............................