Viện Địa lí nhân văn tổ chức nghiệm thu hệ đề tài/ nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2018

15/11/2018

    Ngày 15/11/2018, tại hội trường tầng 6, số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Địa lí nhân văn với sự đại diện của Ban Quản lí Khoa học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu hệ đề tài/ nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2018. Các Hội đồng nghiệm thu đã làm việc nghiêm túc, khách quan và khẩn trương trong quá trình bình xét, nghiệm thu hệ đề tài/ nhiệm vụ; kết quả, đánh giá chung cho thấy: các đề tài đều được thực hiện đúng tiến độ kế hoạch, đạt chất lượng. Đây là động lực thúc đẩy, khích lệ, đảm bảo cho sự thành công hơn cho hệ đề tài/ nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở của Viện Địa lí nhân văn sẽ được thực hiện trong năm 2019.

Toàn cảnh buổi nghiệm thu

1. Đề tài/nhiệm vụ: Một số vấn đề về thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long

Chủ nhiệm đề tài:       NCS. Hà Huy Ngọc

Thành viên tham gia: ThS. Bùi Thị Cẩm Tú

                                   ThS. Định Thị Lam

                                   CN. Nguyễn Thị Hằng

        Vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng do tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH). Trong thời gian qua, BĐKH đã ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế - xã hội và sinh kế của người dân trong vùng. Theo kịch bản BĐKH và nước biển dâng, nếu mực nước biển dâng 100 cm, sẽ có khoảng 38,9% diện tích có nguy cơ bị ngập. Nếu như, mực nước biển dâng trên 1m, mà không có các hoạt động ứng phó, phần lớn diện tích của vùng ĐBSCL sẽ hoàn toàn bị ngập thời gian dài trong năm và thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỷ USD.

        Ngoài việc thực hiện những chính sách chung của Trung ương, trong thời gian qua, Chính phủ, Bộ, ngành đã xây dựng, ban hành nhiều cơ chế chính sách đặc thù nhằm ứng phó với BĐKH cho vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL còn nhiều hạn chế , vì vậy, việc nghiên cứu thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL là cần thiết nhằm đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách ở khu vực này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH của vùng trong bối cảnh mới.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (i) Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu; (ii) Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng ĐBSCL; (iii) Đề xuất giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới.

        Trong phần thứ nhất, đề tài đã trình bày cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH thông qua các khái niệm liên quan tới “Biến đổi khí hậu”, “thực hiện chính sách công”, “thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH” đồng thời chỉ ra quy trình, điều kiện, các nhân tố để thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH và đã đề cập đến một số kinh nghiệm quốc tế về thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH (Bangladesh, Trung Quốc, Thái Lan, Canada, Hà Lan) và rút ra bài học cho Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng  trong việc hoạch định và thực hiện chính sách BĐKH.

        Trong phần thứ hai, đề tài đã khái quát các đặc điểm kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và phân vùng chức năng sinh thái của vùng ĐBSCL đồng thời tổng quan về một số biểu hiện, ảnh hưởng, thiệt hại do BĐKH gây ra. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã rà soát các chính sách ứng phó và quá trình thực hiện chính sách ứng phó với BĐKH ở Việt Nam và các chính sách đặc thù của vùng; đồng thời chỉ ra những bất cập trong quá trình thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ứng phó với BĐKH trong thời gian qua.

        Trong phần thứ ba, đề tài đã chỉ ra những thách thức và cơ hội mà các chính sách ứng phó với BĐKH vùng ĐBSCL đang gặp phải trong bối cảnh mới (cuộc cách mạng 4.0, các hiệp định thương mại tự do…), đồng thời đưa ra các quan điểm và đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách: giải pháp về quy hoạch; hoàn thiện thể chế ứng phó; cơ chế tài chính đặc thù; trung tâm dữ liệu phát triển bền vững vùng; giải pháp về hoàn thiện bộ máy tổ chức thực hiện; và đặc biệt là huy động sự tham gia của khu vực tư nhân tham gia vào ứng phó với BĐKH.

        Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình là 81,4 /100.

                                                                                                               Nguyễn Thị Hằng

2. Đề tài/nhiệm vụ: Một số giải pháp về công tác quản lí giao thông đô thị nhằm giảm thiểu ùn tắc giao thông ở Hà Nội

Chủ nhiệm: TS. Đào Hoàng Tuấn

        Giao thông đô thị là hệ thống các loại đường, cơ sở hạ tầng giao thông và các loại phương tiện vận tải hàng hoá, con người. Nó có chức năng đảm bảo sự giao lưu các sản phẩm, nguyên nhiên liệu giữa các cơ sở hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ, từ nơi cung ứng tới nơi tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, đáp ứng các nhu cầu đi lại của con người trong quá trình sinh hoạt, nghỉ ngơi và làm việc trong và ngoài đô thị. Tổ chức và quản lý giao thông đô thị phản ánh trình độ phát triển của đô thị đó. Tổ chức giao thông hợp lý sẽ là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của đô thị và của cả vùng.

        Ùn tắc giao thông đô thị là hiện tượng đã trở thành thuộc tính của quá trình đô thị hóa, hệ quả sâu xa của việc gia tăng dân số quá nhanh so với kế hoạch, quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị. Vì vậy, quản lý giao thông đô thị là một nội dung có tính tổng hợp liên quan đến tất cả các nội dung trong quản lý đô thị.

        Cách tiếp cận theo hướng tổ chức và quản lý lãnh thổ được áp dụng nhằm tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông đô thị. Cụ thể: Đề tài đã xây dựng một khung lý thuyết về quản lý giao thông đô thị; tổng quan các kinh nghiệm về hạn chế ùn tắc giao thông đô thị ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam; một số các bài học kinh nghiệm về giải pháp giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông đô thị trong nước và quốc tế, vận dụng trong hoàn cảnh giao thông của Hà Nội, đưa ra một số giải pháp mang tính khả quan trong quá trình thực hiện công tác quản lý giao thông đô thị như: nhóm giải pháp về chính sách; nhóm giải pháp về kỹ thuật; nhóm giải pháp về thông tin tuyên truyền nhằm hạn chế tình trạng ùn tắc giao thông ở Hà Nội.

        Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở lý luận về quản lý giao thông đô thị, đóng góp vào lĩnh vực chính sách công, chính sách quản lý đô thị.

        Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 70,4/100.

Nguyễn Thị Ngọc

3. Đề tài/nhiệm vụ: Ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS nghiên cứu xói lở bờ biển tỉnh Quảng Nam

Chủ nhiệm:                ThS. Lê Thu Quỳnh

Thành viên tham gia: ThS. NCVC. Nguyễn Xuân Hòa

                                   ThS. Đặng Thành Trung

                                   CN. Nghiêm Văn Khoa

        Công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) với nhiều ứng dụng quan trọng vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới, không chỉ các nước có nền khoa học kĩ thuật tiên tiến mà còn ở các nước đang phát triển. Nhu cầu ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để quản lý tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng... hoàn thiện bản đồ địa hình, thành lập một số bản đồ chuyên đề, phục vụ quản lý đất đai và giảm sát môi trường ngày càng trở nên thiết thực và quan trọng. Viễn thám và công nghệ GIS đã trở thành công cụ chủ đạo giúp cho các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách lựa chọn trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên và giám sát môi trường.

        Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài hơn 3260km và có nhiều cửa sông lớn nhỏ là nơi phát triển các hệ sinh thái đặc trưng và thường được quy hoạch tập trung phát triển các cảng, các hoạt động công nghiệp, hàng hải, dịch vụ và du lịch. Những năm gần đây, do tác động của biến đổi khí hậu, hiện tượng xói lở bờ biển, bồi lấp các cửa biển ở các tỉnh ven biển xảy ra rất mạnh ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực miền Trung, trong đó có Quảng Nam.

        Quảng Nam là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, có đường bờ biển dài trên 125 km đi qua 6 huyện và thành phố với các cửa sông chính đổ ra biển ở Cửa Sông Hàn, Cửa Đại và cửa Kỳ Hà. Dải bờ biển có 2 thành phố là Hội An và Tam Kỳ, đồng thời có tiềm năng về du lịch với nhiều bãi tắm đẹp và nổi tiếng: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ).... Đi cùng với sự phát triển của du lịch là sự ra đời của hàng loạt khách sạn, nhà hàng và khu nghỉ dưỡng nhất là trong tuyến du lịch Đà Nẵng – Hội An, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Ngoài ra các cửa sông còn có vai trò tiêu thoát lũ cho vùng hạ lưu và là nơi trú ẩn của tàu thuyền khi có bão. Do hoàn cảnh địa lý tự nhiên trong khu vực diễn ra hết sức phức tạp và khốc liệt nên tình hình sạt lở và bồi tụ ven bờ biển tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1988 - 2017 ngày càng diễn biến phức tạp.

        Đề tài sử dụng cách tiếp cận địa lí nhân văn và nghiên cứu Bản đồ - Viễn Thám và GIS đã đưa ra được cơ sở lý luận về viễn thám, hệ thống thông tin địa lý và xói lở bờ biển. Bên cạnh đó, đề tài đã phân tích rõ hiện trạng xói lở - bồi tụ và xây dựng bản đồ biến động đường bờ biển tỉnh Quảng Nam, đề cập rõ một số ứng dụng của viễn thám và công nghệ GIS trong nghiên cứu xói lở bờ biển ở Việt Nam. Qua đó, dự báo xu hướng xói lở bờ biển và đưa ra một số giải pháp giảm thiểu tình trạng xói lở bờ biển ở Quảng Nam trong thời gian tới.

         Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp được cơ sở của việc ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS trong nghiên cứu các vấn đề xói lở bờ biển, cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý trong xử lý điểm “nóng” xói lở bờ biển Cửa Đại.

        Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 84/100.

Nguyễn Thị Ngọc

 

4. Đề tài/ nhiệm vụ: Một số vấn đề quản lý đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Cát Bà

Chủ nhiệm đề tài:     ThS. Cao Thị Thanh Nga

Thành viên tham gia: ThS. Nguyễn Thị Thu Hà

                                   ThS. Phạm Mạnh Hà

                                   ThS. Trần Ngọc Ánh

        Nằm ở vùng Đông Nam Á, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới trong đó Vườn Quốc gia Cát Bà là một khu vực phong phú về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Vườn Quốc gia Cát Bà có sự kết hợp của nhiều hệ sinh thái khác nhau: rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng ngập nước trên núi cao, rừng ngập mặn vùng duyên hải, vùng biển với các rạn san hô gần bờ, hệ thống hang động. Với đa dạng sinh học cao, quần đảo Cát Bà đã được UNESCO chính thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

        Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới sự tác động của các hoạt động của con người, cộng với sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường đã làm ảnh hưởng đến những giá trị sinh học của Vườn quốc gia Cát Bà. Công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học ở đây gặp nhiều thách thức do đời sống của người dân tại các khu vùng đệm của Vườn Quốc gia còn gặp nhiều khó khăn, thói quen sống dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên (săn bắt động vật, khai thác cây cảnh, cây thuốc, lấy mật ong ...) dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm: (i) Làm rõ cơ sở lí luận về quản lý đa dạng sinh học; (ii) Nghiên cứu thực trạng đa dang sinh học và công tác quản lý đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia Cát Bà; (iii) Đề xuất giải pháp nhằm quản lý đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia Cát Bà.

        Nội dung của đề tài gồm 3 phần. Trong phần thứ nhất, đề tài đã trình bày các khái niệm liên quan đến đa dạng sinh học (đa dạng sinh học, quản lý đa dạng sinh học); phân tích vai trò và những giá trị của đa dạng sinh học trong phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và đề cập đến kinh nghiệm quản lý đa dạng sinh học ở một số Vườn Quốc gia trên thế giới (Vườn Quốc gia ở Nepan, Vườn Quốc gia ở Scotland) và Vườn Quốc gia ở Việt Nam (Vườn quốc gia Xuân Thủy - Nam Định, Vườn Quốc gia Núi Chúa) và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Vườn Quốc gia Cát Bà.

        Trong phần thứ 2, đề tài đã khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; thực trạng đa dạng sinh học của Vườn Quốc Gia Cát Bà và thực trạng công tác quản lý đa dạng sinh học ở đây. Từ đó, nêu lên những yếu tố ảnh hưởng suy giảm đa dạng sinh học và đưa ra khó khăn trong công tác quản lý đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Cát Bà. Tình trạng khai thác tài nguyên và săn bắt động vật hoang dã không bền vững vẫn diễn ra ở khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Bà. Các loài thú nhỏ (tắc kè, kỳ nhông...) thường bị săn bắt nhiều bằng các loại bẫy hoặc súng săn. Hoạt động du lịch phát triển càng thúc đẩy các hoạt động săn bắt, khai thác của người dân địa phương. Việc phát triển nuôi trồng thủy sản một cách ồ ạt không theo quy hoạch gây khó khăn cho công tác quản lý, hủy hoại và làm ô nhiễm môi trường biển, suy giảm diện tích rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, công tác quản lý đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia còn có nhiều khó khăn như thiếu phương tiện, trang thiết bị, kinh phí phục vụ công tác bảo tồn còn thiếu.

        Trong phần thứ 3, đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý đa dạng sin học ở Vườn Quốc gia Cát Bà bao gồm: giải pháp văn bản chính sách, khoa học công nghệ, nhân sự, cơ sở hạ tầng và lồng ghép quản lý đa dạng sinh học với các chương trình, dự án phát triển trên cơ sở các quan điểm về bảo tồn thiên nhiên, quan điểm lồng ghép bảo tồn với phát triển, khai thác và sử dụng hợp lý bền vững tài nguyên thiên nhiên.

        Kết quả của đề tài đã nêu được bức tranh khá đầy đủ và chi tiết về hệ thống quản lý đa dạng sin học ở Vườn Quốc gia Cát Bà và đề xuất các giải pháp có thể ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia Cát Bà trong thời gian tới.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 84,2 /100.

Mai Hải Linh

 

5. Đề tài/nhiệm vụ: Một số vấn đề về quản lý đất đai của thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008

Chủ nhiệm:                ThS. Ngô Minh Đức

Thành viên tham gia: ThS. Lê Hồng Ngọc

                                   ThS. Nguyễn Thị Bích Hạnh

        Việc mở rộng địa giới hành chính của Hà Nội được thực hiện nhằm xây dựng Thủ đô giàu đẹp, văn minh, hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với tầm nhìn đến năm 2030 và 2050; tạo điều kiện giải quyết những bất cập và mâu thuẫn mới phát sinh gây cản trở, làm chậm quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính sẽ có được nhiều cơ sở thuận lợi để khai thác và phát huy tối đa những tiềm năng xây dựng, phát triển để nâng cao vai trò và vị thế của Thủ đô, xứng tầm một trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế - văn hóa - xã hội, giáo dục và khoa học - công nghệ của cả nước. Đây là một yêu cầu khách quan và tất yếu.

        Với diện tích mở rộng gấp 3,6 lần diện tích cũ trước năm 2008, Hà Nội có một quỹ đất thuận lợi để xây dựng không gian đô thị hiện đại, tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu phát triển. Do tác động của tốc độ đô thị hóa nhanh và sự gia tăng dân số cao, nhu cầu về đất đai không ngừng gia tăng. Ngược lại với nhu cầu gia tăng ấy, đất đai lại là tài nguyên có hạn, khiến cho mối quan hệ giữa con người với đất đai và giữa con người với con người trong lĩnh vực đất đai ngày càng trở nên phức tạp, đặc biệt là ở đô thị lớn và có vị thế quan trọng như Hà Nội. Chính vì vậy, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Hà Nội trở nên hết sức quan trọng.

        Đề tài sử dụng tiếp cận địa lí học trong nghiên cứu các vấn đề đất đai, quản lý đất đai và địa giới hành chính trên địa bàn Hà Nội và cách tiếp cận thể chế, quản lý trong nghiên cứu các vấn đề về quản lý nhà nước về đất đai của Hà Nội từ năm 2008 đến nay. Đề tài đã cung cấp một số khái niệm có liên quan như đất đai và quản lý địa giới hành chính, xây dựng một cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về đất đai và quản lý địa giới hành chính làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu một số vấn đề trong quản lý đất đai của Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã khái quát quá trình mở rộng địa giới hành chính của Hà Nội, tổng quan tình hình quản lý đất đai và chỉ ra một số vấn đề về công tác ban hành và tuyên truyền văn bản quy phạm, quy hoạch, kế hoạch, giao đất, cho thuê đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đo đạc, đăng ký cấp giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, phát triển quỹ đất... Từ đó, đề tài đưa ra một số gợi mở nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về quản lý đất đai cũng như giảng dạy về quản lý đất đai và địa giới hành chính.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 75/100.

Nguyễn Thị Ngọc

6. Đề tài/nhiệm vụ: Biến đổi văn hóa tiêu dùng vùng ven đô TP.Hà Nội (Nghiên cứu điểm huyện Hoài Đức - Thành phố Hà Nội)

Chủ nhiệm:                 ThS. NCVC. Đinh Trọng Thu

Thành viên tham gia: ThS. Nguyễn Thị Hòa

                                   ThS. Nguyễn Thị Ngọc

                                   ThS. Nguyễn Thị Huyền Thu

        Văn hóa tiêu dùng là một thành tố của văn hóa nói chung, bao gồm tổng thể các yếu tố triết lý, giá trị, chuẩn mực, tâm lý tiêu dùng, biểu hiện qua hành vi tiêu dùng của cá nhân, nhóm, cộng đồng nhất định. Nghiên cứu văn hóa tiêu dùng tức là nghiên cứu tâm lý, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, phương thức thanh toán của người tiêu dùng đối với sản phẩm tiêu dùng. Văn hóa tiêu dùng hướng đến thỏa mãn các nhu cầu, phản ánh chất lượng sống của người dân. Khi đời sống kinh tế được nâng lên thì nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng thay đổi theo hướng yêu cầu cao hơn về hình thức, chất lượng và sự đảm bảo an toàn... Điều này tác động đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, khiến cho sản xuất và dịch vụ thay đổi theo. Sự biến đổi của văn hóa tiêu dùng ngoài việc phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử, nó còn phụ thuộc rất lớn vào từng khu vực địa lí. Vì vậy, việc nghiên cứu về biến đổi văn hóa tiêu dùng không chỉ cần thiết đối với lĩnh vực văn hóa, kinh tế,... mà nó còn là một khía cạnh của địa lí văn hóa. Nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa tiêu dùng có ý nghĩa lớn hơn trong việc xây dựng một xã hội hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc.

        Đề tài đã sử dụng 3 cách tiếp cận là tiếp cận tổng hợp, tiếp cận hệ thống và tiếp cận địa lí văn hóa để tiến hành nghiên cứu biến đổi văn hóa tiêu dùng ở vùng ven đô Hà Nội. Qua phân tích thực trạng một số biến đổi văn hóa tiêu dùng vùng ven đô Hà Nội cho thấy rõ sự biến đổi văn hóa tiêu dùng phục vụ nhu cầu vật chất thể hiện qua việc tiêu dùng trong lĩnh vực ẩm thực, trang phục, nhà cửa, tiện nghi, đồ dùng sinh hoạt... của người dân trên địa bàn nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây. Điều này được thể hiện rõ nét qua mức chi tiêu hàng tháng của các hộ gia đình cho những khoản sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, mặc, điện, nước, đun nấu, điện thoại... Kết quả khảo sát cho thấy, mức chi hiện nay tăng ở tất cả các khoản chi. Một số tăng gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi so với thời điểm trước năm 2008. Không chỉ dừng lại ở mức chi tăng lên đối với tất cả các khoản chi mà cách thức lựa chọn sản phẩm của người dân cũng đã thay đổi rất nhiều. Người dân đã quan tâm hơn đến nguồn gốc xuất xứ, thương hiệu, chất lượng... của sản phẩm họ lựa chọn chứ không đơn thuần chỉ quan tâm đến giá cả như trước đây. Người dân cũng sẵn sàng lựa chọn những sản phẩm có giá thành cao hơn nhưng có nguồn gốc rõ ràng và độ bền cao, chất lượng tốt. Khoa học kỹ thuật phát triển nên người dân cũng có nhiều lựa chọn hơn để phù hợp với điều kiện sống của mình và góp phần bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, những biến đổi văn hóa tiêu dùng phục vụ nhu cầu tinh thần có xu hướng được nâng lên. Khi cuộc sống vật chất đầy đủ, người dân bắt đầu quan tâm hơn đến tinh thần, mức chi cho từng khoản chi phục vụ nhu cầu tinh thần tăng lên đáng kể so với trước năm 2008. Hơn thế nữa, biến đổi văn hóa tiêu dùng còn thể hiện qua gia tăng một cách mạnh mẽ mức chi tiêu cho các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn. Qua việc phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng, đề tài đưa ra một số giải pháp mang tính gợi ý chính sách để định hướng văn hóa tiêu dùng của người dân ven đô Hà Nội trong tương lai. Ngoài ra, đây còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho những nghiên cứu có liên quan tiếp theo.

        Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 77,8/100.

Nguyễn Thị Ngọc

Các tin cũ hơn.............................