Viện Địa lí nhân văn tổ chức nghiệm thu hệ đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2020

04/11/2020

    Sáng ngày 03-04/11/2020, tại hội trường tầng 6, số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Địa lí nhân văn với sự đại diện của Ban Quản lí Khoa học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu hệ đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2020. Các Hội đồng nghiệm thu đã làm việc nghiêm túc, khách quan và khẩn trương trong quá trình bình xét, nghiệm thu hệ đề tài; kết quả, đánh giá chung cho thấy: các đề tài đều được thực hiện đúng tiến độ kế hoạch, đạt chất lượng. Đây là động lực thúc đẩy, khích lệ, đảm bảo cho sự thành công hơn cho hệ đề tài khoa học cấp cơ sở của Viện Địa lí nhân văn sẽ được thực hiện trong năm 2021.

Toàn cảnh buổi nghiệm thu

1. Đề tài: Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế của người dân xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

Chủ nhiệm:                 ThS. Nguyễn Thị Huyền Thu

Thành viên tham gia: TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt

                                      ThS. Cao Thị Thanh Nga

                                      ThS. Nguyễn Thị Thu Hà

        Yên Bái là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) ở miền núi phía Bắc. Các tác động của biến đổi khí hậu trong thời gian qua được thể hiện ở sự thay đổi bất thường về nhiệt độ tăng cao, hạn hán kéo dài, rét đậm, rét hại, mùa mưa đến trễ và lớn hơn, nắng nóng gay gắt bất thường, mưa bão lũ lụt, lũ ống/lũ quét, trượt lở đất,... Xã Nghĩa Phúc có thể đại diện cho xã miền núi điển hình của thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái là một xã miền núi, địa hình phức tạp, có hơn 90% là người dân tộc thiểu số sinh sống. Sinh kế của người dân chủ yếu từ nông lâm nghiệp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Nơi đây thường đối mặt với các loại thiên tai như: lũ sông, lũ suối, lũ quét, rét đậm, rét hại... Do vậy, nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế của người dân xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái trước tác động của biến đổi khí hậu là thật sự cần thiết.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (i) Làm rõ được cơ sở lý luận về đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế do BĐKH; (ii) Phân tích được tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân xã Nghĩa Phúc; (iii) Đánh giá được tính dễ bị tổn thương về sinh kế do biến đổi khí hậu của người dân xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

        Trong chương 1, đề tài đã làm rõ các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu như: biến đổi khí hậu, sinh kế bền vững, tính dễ bị tổn thương do BĐKH; đồng thời làm rõ cơ sở tiếp cận phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh kế do BĐKH áp dụng cho nghiên cứu. Dựa trên nền tảng lý thuyết đó, nhóm tác giả áp dụng vào phân tích thực trạng nghiên cứu đề tài.

        Trong chương 2, đề tài tập trung phân tích Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội xã Nghĩa Phúc; Tình hình biến đổi khí hậu tại xã Nghĩa Phúc; Tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân xã Nghĩa Phúc và cuối cùng đánh giá tính dễ bị tổn thương về sinh kế của người dân xã Nghĩa Phúc. BĐKH đã hiện hữu với các biểu hiện như nhiệt độ trung bình tăng, lượng mưa thay đổi bất thường, các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng về cả tần suất và cường độ tại xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ. Nhiệt độ cao kèm theo gió “Lào” đã làm cho đất đai khô nóng, lượng nước bốc hơi lớn, dẫn đến tình trạng hạn hán. Lượng mưa phân bố không đồng đều theo các tháng trong năm và có xu hướng giảm vào cả mùa mưa và mùa khô. Mưa lớn kèm theo lốc xoáy gây lũ lụt nghiêm trọng. Số đợt rét đậm, rét hại kéo dài và nhiệt độ xuống thấp hơn trước đây. Kết quả tính toán cho thấy, chỉ số tổn thương sinh kế tại xã Nghĩa Phúc tăng dần theo các yếu tố chính là sức khỏe, hạ tầng cơ sở và điều kiện sinh hoạt, đặc điểm hộ, tài nguyên đất - nước, chiến lược sinh kế, hiện trạng lương thực - thực phẩm, kiến thức kỹ năng, thảm họa tự nhiên - biến đổi khí hậu và mạng lưới xã hội - tài chính với các giá trị lần lượt 0,03; 0,31; 0,35; 0,46; 0,53; 0,54; 0,54; 0,59 và 0,66. Chỉ số LVI tổng hợp của xã Nghĩa Phúc là 0,46 chỉ ra rằng chỉ số tổn thương sinh kế ở mức trung bình, dao động trong khoảng từ 0 (mức tổn thương thấp nhất) đến 1 (mức độ tổn thương cao nhất).

        Trong Chương 3, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu mức độ tổn thương đối với người dân xã Nghĩa Phúc do BĐKH. Đối với mỗi nhóm mức độ tổn thương có những đề xuất giải pháp cụ thể để phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực. Một số các giải pháp bao gồm áp dụng các giống cây trồng có khả năng thích ứng được với sự thay đổi nhiệt độ và có khả năng kháng dịch bệnh cao hơn; nâng cao nhận thức cho người nông dân về các tác động của biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng; lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các kế hoạch, quy hoạch, chính sách của ngành; nghiên cứu chuyển đổi thời vụ của các loại cây trồng dễ bị tác động; hình thành các chính sách xã hội hỗ trợ cho người làm nông nghiệp,...

        Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương trong lập kế hoạch ứng phó với BĐKH để giảm thiểu tính dễ bị tổn thương sinh kế cho người dân xã Nghĩa Phúc.

        Đề tài được Hội đồng xếp loại Xuất sắc với số điểm trung bình 93/100.

Nguyễn Thị Thu Hà

2. Đề tài: Thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỉnh Yên Bái

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đặng Thành Trung

Thành viên tham gia: ThS. Lê Thu Quỳnh

                                         CN Nghiêm Văn Khoa

        Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc của nước ta. Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình 600 m so với mực nước biển. Đặc điểm địa chất của Yên Bái bị phong hóa mạnh và chiều dày vỏ phong hóa lớn cùng với lượng mưa trung bình hàng năm lớn, kéo dài dẫn đến đất đá bão hòa nước. Trong nhiều trường hợp, do sự chủ quan, bất cẩn, thiếu hiểu biết về thiên tai mà những hoạt động phát triển kinh tế của con người, như việc bạt núi mở đường, xây dựng các công trình hạ tầng ở sườn dốc, chân đồi, chân taluy đường giao thông… đã làm mất sự ổn định của sườn dốc, tạo nguy cơ cho trượt lở đất thêm gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cũng như sinh hoạt thậm chí đe dọa đến tính mạng của người dân.

        Hiện nay, các nghiên cứu về trượt lở đất ở Việt Nam nói chung và Yên Bái nói riêng mới chỉ áp dụng trên diện rộng, tỷ lệ nhỏ, chủ yếu phân vùng dự báo định tính, rất thiếu các công trình điều tra đủ chi tiết để hỗ trợ hiệu quả công tác cảnh báo, phòng chống thiên tai. Để giảm thiểu thiệt hại do tai biến trượt lở đất, nhiều nhà khoa học đã nhất trí rằng “lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất” là biện pháp đầu tiên nhằm ngăn ngừa từ xa hiệu quả nhất.

        Vì vậy, việc nghiên cứu nguy cơ loại hình tai biến này góp phần giảm thiểu những thiệt hại do loại tai biến này gây ra đối với tỉnh Yên Bái là nhiệm vụ cấp thiết, đó cũng là lý do để nhóm nghiên cứu chọn đề tài: “Thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỉnh Yên Bái”.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Làm rõ cơ sở lý luận về trượt lở đất tỉnh Yên Bái; (2) Làm rõ thực trạng trượt lở đất, các nhân tố ảnh hưởng đến nguy cơ trượt lở đất tỉnh Yên Bái; (3) Xây dựng quy trình để thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỉnh Yên Bái; (4) Đề xuất các giải pháp nhằm cảnh báo, ứng phó với trượt lở đất tỉnh Yên Bái.

        Nội dung đề tài gồm 3 phần chính. Trong chương một, đề tài tập trung trình bày cơ sở lý luận về trượt lở đất, bao gồm các khái niệm cơ bản về trượt lở đất, nguyên nhân, cơ chế trượt lở, phân loại các hình thức; các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình trượt lở đất; một số khái niệm về bản đồ, bản đồ nguy cơ trượt lở đất và vai trò của việc thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất đối với quản lý tai biến.

        Trong chương hai, đề tài đã trình bày quy trình thành lập bản đồ trượt lở đất tỉnh Yên Bái; Thực trạng trượt lở đất trên địa bàn tỉnh; Tiến hành xây dựng bản đồ trượt lở đất qua các bước: (1) Xây dựng trọng số; (2) Xác định các nhân tố tác động đến quá trình trượt lở đất từ đó xây dựng các bản đồ phân cấp ảnh hưởng của các nhân tố đến trượt lở đất tỉnh Yên Bái: Nhân tố độ dốc, Nhân tố lượng mưa trung bình các tháng mùa mưa, Nhân tố thổ nhưỡng (loại đất), Nhân tố phân cắt sâu,  Nhân tố phân cắt ngang, Nhân tố mật độ đứt gãy, Nhân tố lớp phủ thực vật; (3) Thành lập bản đồ trượt lở đất bằng việc tích hợp các trọng số AHP vào GIS để tính toán bằng công cụ Raster Calculator của phần mềm ArcGIS 10.5.

        Từ những kết quả tính toán về nguy cơ trượt lở đất của tỉnh Yên Bái ở trên, trong chương ba, đề tài đưa ra một số cảnh báo về nguy cơ trượt lở đất cho địa phương, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm ứng phó và phòng tránh trượt lở đất cho tỉnh Yên Bái.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại khá với số điểm trung bình 84,4/100.

Lê Thu Quỳnh

3. Đề tài: Đo lường lợi thế so sánh về du lịch của một số nước ASEAN và vấn đề đặt ra cho Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Hồng Ngọc

        Lý thuyết lợi thế so sánh do David Ricardo phát triển đã tạo ra một khuôn khổ cho các nghiên cứu hội nhập kinh tế quốc tế cổ điển và hiện đại. Tuy nhiên, lý thuyết này lại chưa phổ biến với các sản phẩm vô hình (dịch vụ) - điển hình như du lịch. Trong bối cảnh hội nhập, một số nước ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam đang có lợi thế rất lớn về du lịch và đã trở thành những điểm đến du lịch nổi tiếng trong khu vực và trên thế giới. Điều này đem lại cơ hội khai thác những lợi thế sẵn có và hợp tác để phát triển du lịch của các nước thành viên, nhưng cũng tạo ra thách thức cạnh tranh và tạo ra sự khác biệt về du lịch trong khu vực. Tại Việt Nam, các lợi thế về du lịch có sự tương đồng và vượt trội về khả năng cạnh tranh với các nước thành viên khác nhưng giá trị được tạo ra lại không tương xứng. Do đó, Việt Nam cần phải nhận diện và khai thác các lợi thế so sánh về du lịch nhằm thúc đẩy ngành du lịch, nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức trong hội nhập, xúc tiến xuất khẩu du lịch nhằm tạo ra lợi ích cho nền kinh tế. Trên cơ sở đó, thực hiện đề tài “Đo lường lợi thế so sánh về du lịch của một số nước ASEAN và vấn đề đặt ra cho Việt Nam” là rất cần thiết.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Làm rõ được một số vấn đề lý luận về đo lường lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế, (2) Đo lường được lợi thế so sánh về du lịch của một số nước ASEAN, (3) Chỉ ra được một số vấn đề cần chú trọng nhằm nhận dạng lợi thế so sánh để thúc đẩy thương mại du lịch của Việt Nam.

        Nội dung của đề tài gồm 3 nội dung chính. Trong chương một, đề tài đã trình bày cơ sở lý luận về đo lường lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế bao gồm các khái niệm về lợi thế trong thương mại quốc tế, du lịch và đưa ra một số lý thuyết về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế. Để đo lường lợi thế so sánh, đề tài sử dụng chỉ số RCA dựa trên kim ngạch xuất khẩu du lịch trên thị trường quốc tế để đo lường lợi thế so sánh về du lịch của một số nước ASEAN.

        Trong chương hai, đề tài đã khái quát được tình hình thương mại du lịch quốc tế của một số nước ASEAN như giá trị của ngành du lịch ASEAN, lượng du khách và cơ cấu ngành du lịch thành viên trong ASEAN. Để phân tích, đánh giá thực trạng về lợi thế so sánh về du lịch của các nước ASEAN, đề tài lựa chọn 4 quốc gia Singapore, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam làm đối tượng so sánh. Đề tài sử dụng các chỉ số cấu thành năng lực cạnh tranh về lữ hành và du lịch, cụ thể là các chỉ số về môi trường phát triển du lịch, chính sách phát triển du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch và tài nguyên du lịch trong giai đoạn 2007 – 2019 của 4 quốc gia để đánh giá lợi thế về du lịch. Ngoài ra, đề tài sử dụng chỉ số RCA trong giai đoạn 2005-2019 để đo lường lợi thế so sánh về du lịch của 4 quốc gia trên. Kết quả chỉ ra rằng, Malaysia và Thái Lan vẫn duy trì được lợi thế về du lịch, đặc biệt là Thái Lan không ngừng cải thiện lợi thế này, Singapore tuy không có lợi thế so sánh về du lịch nhưng giá trị xuất khẩu du lịch của quốc gia này luôn ở mức cao trong khu vực và không ngừng tăng lên. Trong khi đó, Việt Nam đang mất dần đi lợi thế so sánh về du lịch.

        Trong chương ba, tác giả đưa ra bối cảnh chung phát triển thương mại du lịch quốc tế của Việt Nam và những cơ hội, thách thức đối với ngành du lịch Việt Nam. Đồng thời, tác giả đưa ra một số lưu ý trong khai thác lợi thế so sánh về du lịch nhằm thúc đẩy thương mại du lịch quốc tế của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích, đánh giá theo mô hình SWOT về du lịch Việt Nam so với các nước trong ASEAN, đòi hỏi Việt Nam phải linh hoạt, sớm nhận diện và nắm bắt cơ hội để tăng trưởng xuất khẩu du lịch, nhanh chóng tận dụng những lợi thế hiện có để xúc tiến xuất khẩu dịch vụ du lịch Từ đó, tác giả đưa ra một số hàm ý cho du lịch Việt Nam nhằm tận dụng được hiệu quả các lợi thế so sánh về du lịch sẵn có và phát triển ngành du lịch quốc gia trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 84,2/100.

Nguyễn Thị Hằng

4. Đề tài: Thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Chủ nhiệm đề tài:  Nguyễn Thị Hằng

        Yên Bái là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, giữa hai vùng sinh thái Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam với nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển kinh tế rừng. Là một tỉnh có lợi thế về rừng và đất rừng với hệ thống thực vật rất phong phú và đa dạng, với nhiều loại khác nhau: cây lâm sản quý hiếm (nghiến, trúc, lát hoa,…), cây dược liệu quý (đẳng sâm, sơn tra, hà thủ ô, hoài sơn, sa nhân), cây lâm sản khác (tre, nứa, vầu, cọ, măng,…). Theo thống kê số liệu năm 2019, diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh là 522.983,8 ha, chiếm 75,9% diện tích tự nhiên với 3 loại rừng: Rừng sản xuất (264.400,6 ha) tập trung ở vùng sản xuất nguyên liệu giấy và cây đặc sản quế; rừng phòng hộ (133.738 ha) phân bố chủ yếu ở khu vực rừng phòng hộ sông Đà, sông Hồng và sông Chảy; rừng đặc dụng (35.447,6 ha).

        Trong những năm qua, các chính sách phát triển rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng rừng, hình thành các vùng nguyên liệu hàng hóa và tạo ra việc làm, thu nhập cho người dân.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm: (1) Tìm hiểu các vấn đề về chính sách phát triển rừng sản xuất; (2) Phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất ở tỉnh Yên Bái; (3) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất ở tỉnh Yên Bái.

        Nội dung của đề tài gồm 3 chương. Trong chương thứ nhất, đề tài đã nêu lên các khái niệm liên quan tới thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất; Nội dung thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất được tác giả nêu rõ, đó là: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; phổ biến tuyên truyền; phân công, phối hợp; đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách phát triển rừng.

        Trong chương thứ hai, đề tài đi sâu vào phân tích thực trạng thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất tại tỉnh Yên Bái. Trong giai đoạn 2013-2020, để đảm bảo vai trò của rừng sản xuất, gia tăng nguồn thu nhập cho người dân, tỉnh đã ban hành nhiều chính sách, đề án nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trong đó có rừng sản xuất. Trong chương này, đề tài nhấn mạnh ba đề án đó là: Đề án phát triển cây quế tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020; Đề án phát triển cây măng tre Bát độ tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020; Đề án phát triển cây sơn tra giai đoạn 2016-2020. Ba đề án trên là 3 đề án thành phần của Đề án phát triển ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh hướng tới lĩnh vực lâm nghiệp. Các đề án vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, chưa đạt mục tiêu nhưng đã phần nào có tác động tích cực làm thay đổi nhận thức và sinh kế của người dân sống bằng nghề rừng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai chính sách, các đề án đều có những vướng mắc chung từ khâu xây dựng triển khai, duy trì chính sách… do vậy, để đề án đạt hiệu quả cần giải quyết được những khó khăn đó. Qua đánh giá khách quan có thể thấy nguồn vốn phục vụ đề án vẫn còn nhiều hạn chế và chênh lệch từ khâu phê duyệt đề án đến khi triển khai vào thực tế. Kinh phí hỗ trợ, khuyến khích người dân trồng rừng sản xuất tạo vùng hàng hóa tập trung còn thấp nên chưa tạo được động lực cho người dân tham gia các đề án, việc tuyên truyền chính sách cũng gặp nhiều khó khăn vì điều kiện địa hình và chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, … Ngoài những khó khăn trên, đề tài cũng nêu rõ được các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

        Trong chương thứ ba, đề tài đã đưa ra một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển rừng sản xuất như: phân bổ kinh phí trong xây dựng và triển khai chính sách; nâng cao, đổi mới chất lượng nội dung tuyên truyền; công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách; đào tạo, thu hút nguồn nhân lực; tổ chức thực hiện; đất đai, thị trường, cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách về phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là vấn đề về rừng sản xuất trong phạm vi một địa phương.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 83,8 /100.

Nguyễn Thị Ngọc

5. Đề tài: Nghiên cứu địa lí chính trị: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trường hợp liên minh Châu Âu và liên hệ với Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đoàn Thị Thu Hương

Thành viên tham gia: ThS. Mai Hải Linh

                                      ThS. Nguyễn Thị Ngọc

                                      CN. Nguyễn Ngọc Trí

        Địa lí chính trị là bộ môn kết hợp giữa khoa học địa lí và khoa học chính trị, tập trung nghiên cứu về tác động của các yếu tố địa lí tới chính sách và chiến lược phát triển của địa phương, vùng miền, hành vi của các quốc gia và quan hệ quốc tế. Trong lịch sử, Liên minh châu Âu (EU) trở thành một mô hình liên kết khu vực điển hình. Khi nhìn từ góc độ địa lí chính trị, tức là xem xét mối tương tác giữa chính trị và không gian, quá trình liên kết của EU gắn liền với những biến động về hình thái đường biên giới lãnh thổ và nguồn tài nguyên bên trong châu Âu. Cũng từ đó, sự biến đổi lãnh thổ, tài nguyên, đường biên giới của EU sẽ tác động mạnh tới sức mạnh tổng hợp của EU và cục diện chính trị toàn cầu.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm: (i) Phân tích và tổng hợp được cơ sở lý luận về nghiên cứu địa lí chính trị và một số lý thuyết địa lí chính trị của việc liên kết châu Âu; (2) Phân tích được cơ sở thực tiễn nghiên cứu địa lí chính trị thông qua phân tích quá trình hình thành và mở rộng EU; (3) Gợi ý một số hướng nghiên cứu địa lí chính trị ở Việt Nam thời kỳ mới.

        Nội dung của đề tài gồm 3 chương. Trong chương thứ nhất, đề tài đã nêu lên quan điểm, lý thuyết và xu hướng nghiên cứu khác nhau về địa lí chính trị. Trong lịch sử hình thành và phát triển, lĩnh vực nghiên cứu địa lí chính trị đã nhận được sự quan tâm của nhiều học giả tiêu biểu với các quan điểm nghiên cứu khác nhau, tạo tiền đề cho các lý thuyết nghiên cứu địa lí chính trị hiện đại, như: lý thuyết sức mạnh biển; lý thuyết về không gian sinh tồn; lý thuyết về miền đất trung tâm và sự ra đời của chủ nghĩa khu vực mới; Dựa trên đối tượng nghiên cứu có thể xác định xu hướng nghiên cứu địa lí chính trị hiện nay gồm: Xu hướng địa lí chính trị tài nguyên; Xu hướng địa lí chính trị lãnh thổ; Xu hướng địa lí chính trị xã hội và xu hướng địa lí chính trị tôn giáo.

        Trong chương thứ 2, đề tài đã chỉ ra rằng: (1) với vị trí địa chiến lược quan trọng khiến châu Âu trở thành trung tâm của những xung đột, chiến tranh và phải chịu những tổn thất nặng nề; từ đó thôi thúc người châu Âu hướng tới liên kết và hội nhập; (2) Sự xuất hiện của mạng lưới đường sắt và cách mạng công nghiệp với nhu cầu về tài nguyên đã hòa giải nhiều “mâu thuẫn truyền kiếp” của một số quốc gia châu Âu, tiêu biểu như Pháp – Đức và dẫn đến sự ra đời của ECSC – viên gạch đầu tiên của tiến trình liên kết châu Âu; (3) Tính đến trước sự kiện Brexit, EU đã trải qua 7 lần mở rộng thành viên. Mặc dù trong nhiều lần mở rộng, nội bộ EU có những bất đồng liên quan đến khác biệt địa lí chính trị và lợi ích kinh tế nhưng những lần mở rộng này đã khiến EU tạo ra được khác biệt địa chính trị như mở rộng lãnh thổ, nâng cao sức mạnh tổng hợp, tạo được vành đai an ninh, phòng thủ và đảm bảo hòa bình và ổn định.

       Trong chương thứ 3, đề tài đã đưa ra một số hướng nghiên cứu địa lí chính trị tại Việt Nam như: (1) Địa lí chính trị tài nguyên tập trung nghiên cứu về tài nguyên vị thế của các địa phương, vùng miền và đất nước để tận dụng các ưu thế về địa lí và các thuộc tính địa lí nhằm có chiến lược phát triển bền vững và đảm bảo an ninh, quốc phòng; (2) Địa lí chính trị lãnh thổ cần xác định rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (lãnh thổ đất liền và biển đảo); (3) Địa lí chính trị xã hội tập trung nghiên cứu vấn đề an ninh lương thực, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế, sản xuất bị tác động mạnh bởi đại dịch Covid-19; vấn đề an ninh năng lượng, trong đó cần tập trung nghiên cứu để chỉ ra các khu vực, vùng, miền có đặc trưng tự nhiên, kinh tế, xã hội phù hợp để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo; (4) Việt Nam cần nghiên cứu và tận dụng tối đa các lợi thế so sánh về địa lí chính trị để thực hiện chiến lược phát triển bền vững đất nước đồng thời cần phải hợp tác sâu rộng, liên kết chặt chẽ với các nước ASEAN để nâng cao vị thế và tăng cường tiếng nói chính trị trong khu vực.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho việc định hướng nghiên cứu địa lí chính trị và vận dụng nghiên cứu địa lí chính trị vào hoạch định chính sách tại Việt Nam trong thời gian tới.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 83,2/100.

Mai Hải Linh

6. Đề tài: Nghiên cứu phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đinh Thị Lam

Thành viên tham gia: ThS. Nguyễn Thị Hòa

                                      ThS. Bùi Thị Cẩm Tú

        Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần. Du lịch tâm linh đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ ở Ba Vì bởi đây là địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp và nhiều di tích lịch sử văn hóa gắn với tên tuổi của các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa. Tuy nhiên, loại hình du lịch tâm linh ở Ba Vì hiện nay vẫn còn một số tồn tại và chưa được khai thác đầy đủ, tương xứng với tiềm năng vốn có. Với mong muốn phát triển bền vững du lịch tâm linh, đồng thời bảo tồn những giá trị văn hóa hiện có, giữ gìn môi trường sinh thái, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhóm tác giả thực hiện đề tài: Nghiên cứu phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

        Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứ như: Thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài; Phương pháp nghiên cứu thực địa tại khu di tích đền thờ Tản Viên Sơn Thánh và các điểm di tích trên địa bàn huyện Ba Vì để ghi lại hiện trạng hoạt động của loại hình du lịch này trên địa bàn; Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện với một số khách du lịch và người làm du lịch tại các điểm khảo sát. Các cách tiếp cận chính được sử dụng trong đề tài là: tiếp cận hệ thống, tiếp cận liên ngành, tiếp cận văn hóa tâm linh và tiếp cận địa lí văn hóa.

        Trong chương 1, đề tài đã trình bày cơ sở lí luận về phát triển du lịch tâm linh. Làm rõ các khái niệm: du lịch, du lịch tâm linh, phát triển du lịch bền vững. Phân tích vai trò của phát triển du lịch tâm linh, điều kiện để phát triển du lịch tâm linh và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tâm linh.

        Trong chương hai, đề tài đã đưa ra thực trạng khai thác du lịch tâm linh ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Khái quát các điểm du lịch tâm linh trên địa bàn nói chung và khu di tích đền thờ Tản Viên Sơn Thánh nói riêng và thực trạng khai thác du lịch tâm linh trên địa bàn khảo sát. Qua đó làm rõ mối quan hệ giữa phát triển du lịch tâm linh với các vấn đề văn hóa xã hội. Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển loại hình du lịch tâm linh này trên địa bàn huyện.

        Trong chương ba, đề tài đã đưa ra một số quan điểm định hướng về phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn và bước đầu đề xuất một số khuyến nghị để việc phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội được thuận lợi hơn trong tương lai góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế cho người dân địa phương.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến nghiên cứu du lịch tâm linh. Bản đồ du lịch tâm linh huyện Ba Vì của nhóm tác giả xây dựng có thể giúp cho các công ty du lịch xây dựng lịch trình các tour, điểm dựa vào giao thông hoặc thời gian diễn ra lễ hội tại các điểm. Ngoài ra, nó còn giúp cho huyện Ba Vì có những định hướng phát triển du lịch tâm linh phù hợp với nguồn tài nguyên văn hóa mình đang có, giúp cho địa phương cũng như các điểm du lịch tâm linh có sự chuẩn bị đầy đủ, chu đáo nhất phục vụ du khách.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại Khá với số điểm trung bình 78/100.

Nguyễn Thị Hòa

7. Đề tài: Việc làm xanh: Một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn

Chủ nhiệm đề tài:       ThS. Phạm Mạnh Hà

Thành viên tham gia: TS. Hà Huy Ngọc

                                      ThS. Đỗ Đình Lền         

        Trong bối cảnh toàn cầu đang ứng phó với khủng hoảng môi trường và biến đổi khí hậu, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang nền kinh tế xanh là phương thức hiệu quả. Một trong những yếu tố để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh đó là tạo việc làm xanh trong xã hội.

        Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh, điển hình là Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 với ba mục tiêu chính là giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất, xanh hóa tiêu dùng và nhiều giải pháp trong đó đề cập đến việc thúc đẩy tạo việc làm xanh.

        Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tạo việc làm xanh của một số quốc gia tiêu biểu cho thấy vai trò quan trọng của Nhà nước, Chính phủ trong việc đảm bảo thực hiện các mục tiêu về bảo vệ môi trường đồng thời thúc đẩy tạo việc làm xanh, phát triển các ngành, nghề mới thân thiện với môi trường như phát triển năng lượng tái tạo.

        Việc làm xanh là kết quả của quá trình thực hiện tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Tuy nhiên trên thực tế, kết quả tạo việc làm xanh còn khá khiêm tốn và cần được tiếp tục phát huy trong thời gian tới cho dù Việt Nam được nhận định là quốc gia có tiềm năng để tăng trưởng xanh và tạo việc làm xanh. Trên cơ sở đó, việc thực hiện đề tài “Việc làm xanh: Một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn” là thật sự cần thiết.

        Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: (1) Hệ thống và luận giải cơ sở lý luận về việc làm xanh và các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm xanh; (2) Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tạo việc làm xanh và rút ra bài học cho Việt Nam; (3) Phân tích đánh giá thực trạng việc làm xanh ở Việt Nam; (4) Đề xuất chính sách thúc đẩy tạo việc làm xanh phù hợp với bối cảnh và thực tiễn của Việt Nam.

         Nội dung của đề tài gồm 3 phần chính. Trong chương thứ nhất, đề tài đã trình bày cơ sở lý luận về việc làm xanh, bao gồm các khái niệm cơ bản về việc làm, việc làm xanh, kinh tế xanh và tăng trưởng xanh; các cách thức phân loại việc làm xanh; vai trò của việc làm xanh trong phát triển bền vững và các điều kiện để tạo việc làm xanh.

        Trong chương thứ hai, đề tài đã tổng quan kinh nghiệm quốc tế về thực hiện việc làm xanh thông qua trường hợp của một số quốc gia tiêu biểu như: Trung Quốc, CHLB Đức và Brazil; Phân tích thực trạng việc làm xanh ở Việt Nam như nhận thức về việc làm xanh, lực lượng lao động trong các lĩnh vực việc làm xanh, các cơ chế chính sách liên quan đến việc làm xanh.

        Trong phần thứ ba, đề tài đã nêu ra các cơ hội và thách thức trong việc thực hiện việc làm xanh và đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy việc làm xanh ở Việt Nam trong bối cảnh mới dựa trên các quan điểm về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

        Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách trong việc định hướng nghiên cứu và thúc đẩy việc làm xanh tại Việt Nam.

        Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá xếp loại khá với số điểm trung bình 77,6 /100.

Đoàn Thị Thu Hương

Các tin cũ hơn.............................