Viện Địa lí nhân văn tổ chức nghiệm thu hệ đề tài nhiệm vụ cấp cơ sở năm 2016

15/11/2016

Trong 3 ngày từ 04-07-11/11/2016, tại hội trường tầng 6, số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Địa lí nhân văn với sự đại diện của Ban Quản lí Khoa học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu hệ đề tài nhiệm vụ cấp cơ sở năm 2016. Các Hội đồng nghiệm thu đã làm việc nghiêm túc, khách quan và khẩn trương  trong quá trình bình xét, nghiệm thu hệ đề tài nhiệm vụ; kết quả, đánh giá chung cho thấy: các đề tài đều được thực hiện đúng tiến độ kế hoạch, đạt chất lượng khá, đạt những bước tiến vượt bậc so với kết quả nghiên cứu năm 2015. Đây là động lực thúc đẩy, khích lệ, đảm bảo cho sự thành công hơn cho hệ đề tài nhiệm vụ cơ sở của Viện Địa lí nhân văn sẽ được thực hiện trong năm 2017.

 

1. Đề tài/nhiệm vụ: Nghiên cứu tác động chính sách phát triển cơ sở hạ tầng Nông nghiệp, nông thôn và giải pháp phát triển bền vững Vùng Trung du và miền núi phía Bắc

Chủ nhiệm: CVC. Nguyễn Ngọc Trí

          Mục tiêu của đề tài : Kết quả đề tài sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý đưa ra những chủ trương phù hợp hơn nhằm quản lý hiệu quả ngân sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển cơ sở hạ tầng theo định hướng bền vững nông ghiệp, nông thôn Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc tại khu vực nghiên cứu

          Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là một vùng kinh tế - xã hội, vùng này có đặc thù riêng so với các vùng khác về vị trí địa lý, địa hình phức tạp, phát triển kinh tế chậm, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, có tiềm năng về phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp nhưng tỷ trọng GDP của Vùng còn thấp. Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn toàn quốc, trong đó có cơ chế ưu tiên cho Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chính sách và giải pháp đầu tư ngân sách xây dựng cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

          Trong phần Tổng quan, đề tài đưa ra các khái niệm về cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng nông thôn, khái niệm Vùng, phân vùng, Vùng kinh tế.... và đưa ra các kinh nghiệm về chính sách phát triển Vùng trên thế giới, cơ sở phân Vùng kinh tế-xã hội ở Việt Nam. Trong phần kết quả nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc; Thực trạng các chính sách phát triển Nông nghiệp, nông thôn và phát triển cơ sở hạ tầng trong Vùng; Đánh giá những bất cập việc tổ chức thực hiện các chính sách và việc đầu tư thu chi ngân sách thực hiện các chính sách. Đề tài cũng nêu lên những chủ trương, chính sách phát triển Vùng của Nhà nước ; Một số đề xuất về giải pháp chính sách phát triển cơ sở hạ tầng bền vững Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, bao gồm: Mở rộng nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng của Chính phủ, của các Bộ ngành; Một số đề nghị với Chính phủ và các Bộ ngành về tổ chức thực hiện, sử dụng vốn ngân sách bền vững.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 73.4/100.

 

2. Đề tài/ nhiệm vụ: Nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp của người Mông ở Hà Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu

          Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Thu Hà

          Thành viên tham gia: ThS. Cao Thị Thanh Nga; CN. Trần Ngọc Ánh

Nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ cơ sở lí luận hệ sinh thái nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu; Nghiên cứu đặc điểm hệ sinh thái nông nghiệp của người Mông tại tỉnh Hà Giang; Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho hệ sinh thái nông nghiệp của người Mông ở Hà Giang.

Người Mông ở Hà Giang là dân tộc có số dân đông nhất so với các dân tộc khác trong tỉnh nổi tiếng với truyền thống canh tác nương đá, trồng lúa, ngô và các loại hoa màu khác. Họ sống chủ yếu bằng kinh tế nông nghiệp, trình độ dân trí thấp, địa vực lưu trú có nhiều hạn chế trong giao lưu, trao đổi phát triển kinh tế - xã hội, vì thế hệ sinh thái nông nghiệp người Mông ở Hà Giang sẽ vô cùng nhạy cảm trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Đề tài đã làm rõ nội hàm và bản chất khái niệm hệ sinh thái, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái nông nghiệp miền núi và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đưa ra khung phân tích để làm rõ mối quan hệ giữa đặc điểm hệ sinh thái nông nghiệp miền núi và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Phần Thực trạng hệ sinh thái nông nghiệp của người Mông ở Hà Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đề tài chia thành Đặc điểm hệ sinh thái nông nghiệp của người Mông ở Hà Giang và Các biểu hiện chính của biến dổi khí hậu ở Hà Giang.                                                                                                                                     

Đề tài được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao, xếp loại Khá với số điểm trung bình 87.2/100.

3. Đề tài/ nhiệm vụ: Kiến thức truyền thống trong việc bảo vệ tài nguyên đất và nước,  của người Tày ở Lạng Sơn

Chủ nhiệm đề tài: CN. Nguyễn Thanh Thủy

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Tổng quan những vấn đề cơ bản về kiến thức truyền thống của người Tày ở Lạng Sơn; Hiện trạng vận dụng kiến thức truyền thống trong bảo vệ tài nguyên đất, nước hiện nay; Kiến nghị một số giải pháp nhằm khai thác, bảo tồn kiến thức truyền thống của người Tày ở Lạng Sơn.

Trong thực tế, tất cả các dự án phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống đều không thể không dựa vào kiến thức của người dân địa phương.Tuy nhiên, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại trong việc bảo vệ tài nguyên không phải lúc nào và ở đâu cũng đem lại hiệu quả tốt. Khu vực miền núi phía Bắc hiện nay hiện tượng biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng nghiêm trọng đến tài nguyên thiên nhiên: rừng; đất và nước, điều đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bà con vùng cao.

Trước tình hình đó, người dân địa phương đã phải tự tìm mọi cách thích ứng với những hiện tượng thời tiết cực đoan trên để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng, họ phải sử dụng vốn kiến thức truyền thống sẵn có để bảo vệ nguồn tài nguyên mà họ dựa vào để sinh sống.

Đề tài đã khái quát điều kiện tự nhiên, đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của người Tày ở Lạng Sơn; Kiến thức truyền thống Người Tày ở Lạng Sơn với trong việc bảo vệ tài nguyên đất, nước; Một số giải pháp để bảo tồn và phát huy kiến thức truyền thống của người Tày ở Lạng Sơn

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 83/100.

 

4. Đề tài/ nhiệm vụ: Nghiên cứu phân bố nguồn nhân lực phục vụ phát triển bền vững tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh

Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt

Thành viên tham gia: CN. Đinh Thị Lam

Mục tiêu của đề tài là: Phân tích thực trạng sự phân bố nguồn nhân lực cũng như vai trò của nguồn nhân lực cho chiến lược phát triển bền vững huyện đảo Cô Tô; Đề xuất giải pháp về phân bố và phát triển nguồn nhân lực trên huyện đảo Cô Tô phục vụ cho phát triển bền vững.

Đề tài đã đưa ra được các khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá và một số nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực. Trong phần Thực trạng phân bố nguồn nhân lực tại huyện đảo Cô Tô, đề tài nêu lên các nhân tố ảnh hưởng đến phân bố nguồn nhân lực; lịch sử hình thành huyện đảo, tình hình biến động dân số trong các năm gần đây; các chính sách về phát triển huyện đảo trong đó xem xét các chính sách phát triển kinh tế, nguồn nhân lực; nêu hiện trạng hệ thống đào tạo của huyện đảo Cô Tô trong thời gian gần đây, các điều kiện, cơ sở vật chất cho việc đào tạo nguồn nhân lực; các cơ chế chính sách cho việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trên huyện đảo. sự phân bố nguồn nhân lực. Phần 3 nói về các định hướng phát triển nguồn nhân lực nước ta nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực trên Cô Tô. Từ đó đưa ra định hướng phân bố nguồn nhân lực trên huyện đảo Cô Tô đến năm 2030.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung 76.8/100.

 

5. tài/nhiệm vụ: Nghiên cứu văn hóa làng nghề truyền thống ở Long An

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Hòa

Thành viên tham gia: ThS. Nguyễn Thị Huyền Thu

Long An là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp với Thành phố Hồ Chí Minh. Là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay, việc giữ gìn và phát huy các nghề truyền thống này để bảo tồn văn hóa dân tộc đang đặt ra yêu cầu cấp bách. Và trên cơ sở hiểu biết rõ về làng nghề truyền thống trên địa bàn Long An thì mới có thể có những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghề truyền thống trên địa bàn nói riêng và giữ gìn bản sắc văn hóa nơi đây và rộng ra là cả nước nói chung.  Vì vậy, nghiên cứu văn hóa làng nghề thuyền thống và thực trạng làng nghề truyền thống ở Long An giúp đưa ra giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa làng nghề truyền thống tại địa phương này là hết sức cần thiết.

Đề tài tập trung nghiên cứu văn hóa làng nghề truyền thống nhằm đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Long An. Từ việc làm rõ thực trạng phát triển và văn hóa làng nghề truyền thống ở Long An, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Long An với những đặc trưng văn hóa của địa phương.

Tiếp cận tổng hợp, hệ thống và tiếp cận địa lí văn hóa, nhóm tác giả đã tiến hành làm rõ một số khái niệm liên quan như văn hóa, làng nghề, nghề và làng nghề truyền thống... cũng như các lý thuyết được áp dụng trong đề tài. Dựa trên cơ sở lý luận này, nhóm tác giả trình bày những đực điểm chung về môi trường tự nhiên và đặc trưng của cư dân sinh sống ở Long An về dân số, phân bố dân cư, trình độ học vấn, dân tộc... Tiếp đó, nhóm tác giả nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển của các làng nghề truyền thống ở Long An về số lượng, hoạt động sản xuất, các yếu tố tác động đến sự phát triển nghề... Trên cơ sở các nội dung được phân tích, nhóm tác giả làm rõ những nghề truyền thống cần được bảo tồn và phát triển; những nghề truyền thống không còn phù hợp để bảo tồn và phát triển. Từ đó, một số giải pháp để bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống ở Long An được đề xuất.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 85.4/100.

 

6. Đề tài/nhiệm vụ: Các vấn đề lý luận trong nghiên cứu địa lí kinh tế mới

Chủ nhiệm: ThS. Bùi Thị Cẩm Tú

Thành viên tham gia: TS. Phạm Thị Trầm, CN. Hà Huy Ngọc

Nền kinh tế thế giới phát triển không ngừng cùng với những biến động hết sức to lớn, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của mỗi khu vực, mỗi quốc gia. Chính vì thế, sự phân tích của địa lí kinh tế góp phần không nhỏ vào việc đưa ra những định hướng có tính chất khoa học và thực tiễn đúng đắn. Từ đó, giúp các nhà hoạch định chính sách có được cơ sở lý luận khoa học khách quan khi nghiên cứu cách thức tổ chức sản xuất và phân bố không gian của nền kinh tế trên một vùng lãnh thổ cụ thể ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô. Trên cơ sở đó, các nhà khoa học có thể đưa ra được những khuyến nghị và giải háp có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn và vừa có giá trị nhân văn nhằm phục vụ công cuộc phát triển của đất nước. Trong quá trình luận giải hoạt động thực tiễn của đời sống kinh tế, các nhà địa lí kinh tế học luôn cố gắng hoàn thiện hệ thống lý thuyết nhằm phục vụ cho việc giải thích và tìm hiểu thực tiễn nhằm đưa ra giải pháp cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững. Một trong những hướng nghiên cứu mới của địa lí kinh tế đã góp phần đạt được mục tiêu này là hệ thống lý thuyết và lý luận của địa kinh tế mới về sự tập trung của các khu cụm kinh tế và những khu vực ngoại vi…

Đề tài nhằm mục tiêu tìm hiểu các vấn đề lý luận trong nghiên cứu địa lí kinh tế với, từ đó vận dụng các quan điểm lý luận của địa kinh tế mới để luận giải một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới.

Trong phần cơ sở lý luận, nhóm tác giả đã tìm hiểu một số vấn đề bao gồm lịch sử hình thành các quan điểm lý luận khoa học, đối tượng nghiên cứu và một số quan điểm lý luận của địa lí kinh tế mới. Những quan điểm của địa lí kinh tế mới được đưa ra nhằm luận giải một cách chính xác và đầy đủ các nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia, khu vực cũng như cập nhật, bổ sung vào  hệ thống lý luận của địa kinh tế những quan điểm lý luận mang tính thời sự và có tính ứng dụng cao. Nhiệm vụ của địa kinh tế mới là trả lời câu hỏi các hoạt động kinh tế diễn ra ở đâu và tại sao lại ở đó? Địa kinh tế mới khẳng định hầu hết các hoạt động kinh tế đều tập trung về phương diện địa lí. Đa phần người dân tại các quốc gia tiêu biểu và một số đáng kể các nước đang phát triển sống tại các trung tâm đô thị; nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ cũng tập trung về phương diện địa lí...

Vận dụng những quan điểm này, nhóm tác giả luận giải một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới, tập trung vào phân tích thực trạng phát triển kinh tế, quá trình thương mại và các cụm/khu kinh tế ở trong và ngoài nước sao cho phù hợp với tình hình phát triển của từng quốc gia và bối cảnh chung của thế giới. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất các hướng nghiên cứu đối với các vấn đề kinh tế mang tính thời sự ở những khung cảnh/không gian kinh tế cụ thể ở trong và ngoài nước.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 81.8/100.

 

7. Đề tài/nhiệm vụ: Cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu ngành địa chính trị ở Việt Nam

Chủ nhiệm: ThS. NCVC. Phạm Mạnh Hòa

Thành viên tham gia: ThS. Ngô Minh Đức, CN. Lê Hồng Ngọc

Địa chính trị là một môn khoa học đã có ngay từ khi có sự xuất hiện của các nhà nước, quốc gia và dân tộc. Tuy nhiên trong một thời gian dài, địa chính trị bị lãng quên. Phải từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở lại đây, bộ môn khoa học này mới bắt đầu được chú ý trở lại và dần dần phát triển phù hợp với các xu thế mới của thế giới. Địa chính trị là khoa học nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố địa lí và chính trị nhằm luận giải các quan hệ quốc tế dựa trên các yếu tố địa lí. Tại Việt Nam, địa chính trị vẫn còn là một ngành khoa học mới, chưa được nhận thức đúng đắn và chưa được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng. Đặc biệt, trong bối cảnh quốc tế và trong nước diễn ra nhiều sự kiện, địa chính trị với vai trò là một môn khoa học tiếp cận, nghiên cứu quan hệ quốc tế sẽ ngày càng được chú trọng.

Đề tài phân tích cơ sở khoa học cho việc hình thành ngành nghiên cứu địa chính trị ở Việt Nam; cụ thể là thông qua việc tổng quan các nghiên cứu về địa chính trị và nghiên cứu các mô hình nghiên cứu, đào tạo địa chính trị trên thế giới; nhóm tác giả phân tích thực tiễn nghiên cứu về địa chính trị và vai trò của địa chính trị ở Việt Nam, từ đó đề xuất gợi ý kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hình thành ngành nghiên cứu địa chính trị.

Nhóm tác giả đã tìm hiểu và giới thiệu một số tổ chức nghiên cứu và chương trình đào tạo về địa chính trị tại Mỹ và một số nước Châu Âu để đem lại cái nhìn tổng quan về một số mô hình cũng như các nội dung nghiên cứu địa chính trị trên thế giới. Tại Việt Nam, không có nhiều viện nghiên cứu và trường đại học tiến hành nghiên cứu và giảng dạy địa chính trị. Với sự vận dụng những kiến thức về địa lí trong lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta cũng như vai trò quan trọng của địa chính trị trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhóm tác giả đã đưa ra một số gợi ý nhằm phát triển ngành khoa học địa chính trị ở Việt Nam.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 78.0/100.

 

8. Đề tài/nhiệm vụ: Khảo sát nhu cầu đào tạo kiến thức bảo vệ môi trường cho cán bộ, viên chức Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Thị Bích Hạnh

Thành viên tham gia: Ths. Đặng Thành Trung

Môi trường đang trở thành vấn đề chung của nhân loại, được cả thế giới quan tâm. Việt nam cũng là nước có môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng do các hoạt động của con người. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hậu quả trên là do nhận thức và thái độ của con người về môi trường còn nhiều hạn chế. Từ đó, yêu cầu đặt ra là phải làm thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là một cơ quan khoa học, với đội ngũ trình độ cao, trong nhiều năm qua đã thực hiện thành công nhiều dự án, đề tài, nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, trong đó có các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu… Trong bối  cảnh hiện nay, cán bộ, viên chức và người lao động nối chung tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phải có những kiến thức nhất định về bảo vệ môi trường, cập nhật, nắm bắt một cách đầy đủ và chính xác các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Do vậy, việc tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật, các thông tin về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức cho cán bộ, viên chức và người lao động ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam để có thể áp dụng vào công việc nghiên cứu cũng như nâng cao ý thức bảo vệ môi trường là rất cần thiết.

Đề tài được tiến hành nhằm mục tiêu xác định nhu cầu đào tạo và nhu cầu tăng cường năng lực cán bộ về các vấn đề bảo vệ môi trường tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Cụ thể: Nhóm tác giả đánh giá thực trạng cán bộ, viên chức đã được đào tạo về chuyên ngành môi trường và xác định rõ nhu cầu đào tạo và nhu cầu tăng cường năng lực cán bộ về các vấn đề bảo vệ môi trường tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp về vấn đề đào tạo nhằm nâng cao kiến thức bảo vệ môi trường cho cán bộ, viên chức tại Viện.

Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 75.0/100.

 

9. Đề tài/nhiệm vụ cơ sở : “ Nghiên cứu biến đổi hiện trạng sử dụng đất vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo – khu vực Vĩnh Phúc dưới sự trợ giúp của hệ thống thông tin địa lý”.

Chủ nhiệm đề tài : Ths. Nguyễn Xuân Hoà

Thành viên tham gia: Ths. Đặng Thành Trung, Ths. Lê Thu Quỳnh

          Mục tiêu tổng quát : Đánh giá sự biến động về sử dụng đất của người dân sống ở vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo – Khu vực Vĩnh Phúc trong thời gian trước và sau thành lập vườn quốc gia với sự trợ giúp của hệ thống thông tin địa lý: góp phần xây dựng cơ sở khoa học phục vụ quản lý và sử dụng đất gắn với sinh kế của người dân.

          Vườn quốc gia Tam Đảo (VQG) được thành lập năm 1996, từ khi thành lập người dân không được phép vào rừng khai thác , do chính sách quản lý và kiểm soát chặt chẽ. Hiện nay, người dân vùng đệm VQG Tam Đảo (đặc biệt là khu vực tỉnh Vĩnh Phúc) ngoài sản xuất nông nghiệp họ phải tự kiếm việc làm, đi làm thuê hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng  của các loại đất hiện có. Diện tích đất canh tác sụt giảm trầm trọng so với trước đây. Bên cạnh đó, sự gia tăng dân số nhanh chóng ở vùng đệm, thiếu đất canh tác, cuộc sống của người dân vùng đệm phụ thuộc nhiều vào việc săn bắt động vật, khai thác lâm sản, lấy măng, củi, chặt phá rừng bừa bãi. Rừng đầu nguồn bị phá hoại nghiêm trọng dẫn đến diện tích rừng hoang, đồi núi trọc ngày một tăng. Việc sử dụng hệ thống thông tin địa lý Gis để nghiên cứu sự biến động sử dụng đất của người dân sống ở khu vực này từ giai đoạn trước và sau khi thành lập nhằm đưa ra những định hướng sử dụng đất hợp lý cho phát triển sinh kế bền vững của người dân đồng thời góp phần giải quyết những khó khăn, mâu thuẫn tồn tại trong việc bảo tồn và phát triển.

          Đề tài đã nêu rõ được cơ sở lý luận của việc ứng dụng kỹ thuật viễn thám và Gis trong nghiên cứu và thành lập bản đồ biến động sử dụng đất; Các hình thái sử dụng đất của người dân ở vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo, đồng thời đi sâu nghiên cứu những biến đổi hiện trạng sử dụng đất theo thời gian, đặc biệt là thời gian trước và sau khi thành lập vườn quốc gia Tam Đảo để bảo tồn rừng và đa dạng sinh học. Từ đó sẽ thành lập bản đồ biến động biến động sử dụng đất của người dân nơi đây để có thể đưa ra một số định hướng sử dụng đất hợp lý.

          Đề tài đã đạt được giá trị về mặt khoa học và thực tiễn. Được hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 83,6/100.

 

 

 

10. Đề tài/ nhiệm vụ: “Một vấn đề về cơ sở lý luận trong nghiên cứu di dân theo tiếp cận khoa học địa lý”.

Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Thị Tuyết

          Vấn đề nghiên cứu liên quan đến di dân ở Việt Nam đã được quan tâm từ khá lâu, nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác phân bố lại dân cư và lao động hợp lý. Nghiên cứu dân cư, trong đó có các luồng di dân là một phần quan trọng của nghiên cứu địa lý lãnh thổ, bởi vì dân cư là nguồn tài nguyên lớn nhất trong số các nguồn tài nguyên của lãnh thổ. Phát triển kinh tế của lãnh thổ phụ thuộc vào các thành phần môi trường địa lý của lãnh thổ, như: điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên, cấu trúc nhân khẩu và mô hình không gian của dân cư. Trong đó, cần tập trung phân tích các biến số: gia tăng, phân bố, mật độ, tỷ lệ giới tính, giáo dục, cấu trúc việc làm, đô thị hoá…cung cấp cơ sở rõ rang và chi tiết về vùng, đây là kết quả quan trong cho quy hoạch lãnh thổ hợp lý.

          1.Đề tài đã tổng quan được các công trình nghiên cứu về di dân theo tiếp cận khoa học địa lý trên thế giới và ở Việt Nam, để có cái nhìn xuyên suốt lịch sử nghiên cứu về di dân.

          2. Nêu được cơ sở lý luận về di dân theo hướng tiếp cận khoa học địa lý: Các khái niệm, nội hàm nghiên cứu của di dân và các phương pháp chủ yếu được áp dụng trong nghiên cứu di dân theo tiếp cận khoa học địa lý. Cơ sở lý luận chính là luận cứ lý thuyết được chứng minh bởi những nghiên cứu của các tác giả đi trước. Xây dựng hoặc vận dụng đúng đắn các cơ sở lý luận có ý nghĩa quan trọng, giúp cho việc tổ chức nghiên cứu hợp lý, phù hợp nhất với bối cảnh lãnh thổ.

          3. Từ các kết quả nghiên cứu về cơ sở lí luận, đề tài đã đề xuất các xu hướng nghiên cứu di dân theo tiếp cận khoa học địa lý phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của phòng Địa lí dân cư.

          Đề tài đã có những đóng góp sau: Bước đầu góp phần tổng quan về cơ sở lý luận của nghiên cứu di dân theo quan điểm địa lý và là cơ sở khoa học góp phần cho việc xác định các hướng nghiên cứu tiếp theo của phòng Địa lí Dân cư.

          Đề tài được hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 82,2/100.

 

11. Đề tài/Nhiệm vụ: “Một số vấn đề về du lịch nhân văn tỉnh Thừa Thiên Huế”.

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Phạm Mạnh Hà.

          Mục tiêu tổng quát của đề tài: Phân tích, đánh giá một số về du lịch nhân văn và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của nó đối với sự phát triển du lịch trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

          Lịch sử đã để lại cho Thừa Thiên Huế một sứ mệnh đặc biệt để phát triển du lịch. Với bề dày lịch sử văn hoá lâu đời, tỉnh sở hữu nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc và nổi bật, đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển du lịch chung của đất nước. Phát triển du lịch dựa trên việc khai thác nguồn tài nguyên du lịch nhân văn tạo thành các điểm tham quan du lịch đặc sắc có sức hấp dẫn du khách đã được tập trung đầu tư và xem đây là thế mạnh lâu dài của ngành du lịch.

          Đề tài đã đạt được những kết quả sau:

          1. Tổng hợp và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tài nguyên du lịch nhân văn, về mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch nhân văn và du lịch, lý luận về đánh giá tài nguyên du lịch;

          2. Đánh giá giá trị các tài nguyên du lịch nhân văn, thực trạng khai thác các tài nguyên đó và thực trạng hoạt động du lịch nhân văn của tỉnh Thừa Thiên Huế;

          3. Từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ và khái thác hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn của tỉnh.

          Đề tài được hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 75,8/100.

 

12. Đề tài/Nhiệm vụ: “Ứng dụng phần mềm Greenstone trong việc tiếp cận thư viện số tại thư viện Viện Địa lí nhân văn”.

Chủ nhiệm đề tài: KSC. Lê Xuân Khôi

Thành viên tham gia: Ths. Mai Hải Linh, CN. Trần Thị Hương

Với số lượng thông tin khoa học kỹ thuật ngày càng gia tăng, với ý nghĩa nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện là làm thế nào để thông tin đến với bạn đọc, làm thế nào để thông tin được tổ chức một cách tốt nhất giúp người sử dụng có thể truy vấn thông tin mình cần một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. “Thư viện số” là một thư viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và được quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức giúp người dùng dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông. Thư viện Viện  Địa lí Nhân văn đang ứng dụng phần mềm WINISIS trong công tác quản lý thư viện. Về mặt lý thuyết, Thư viện Viện  Địa lí Nhân văn hoàn toàn có thể quản lý kho tư liệu bằng phần mềm này. Tuy nhiên, WINISIS đơn thuần chỉ là phầm mềm quản lý tư liệu và đã lạc hậu (Sử dụng từ những năm 1998-1999, hệ điều hành chuẩn để chạy là trên nền Window 3.x, chưa có font chữ Unicode...), thực tế các hệ điều hành Windows version mới sẽ không hỗ trợ để chạy phần mềm này nữa. Phần mềm Greenstone hiện đang là một ứng dụng công nghệ tin học phổ biến và hoàn toàn miễn phí. Một Thư viện số thông thường được xây dựng bằng phần mềm Greenstone sẽ chứa được nhiều bộ sưu tập, được sắp xếp riêng lẻ thông qua sự giống nhau nổi bật, được duy trì dễ dàng. Ngoài ra bộ tài liệu còn có thể được bổ sung và tự động tái tạo lại.         

       Đề tài đã làm rõ được những vấn đề như :

          - Khái niệm về thư viện số, tầm quan trọng của thư viện số và tổng quan về phần mềm quản lý dữ liệu số Greenstone. Khả năng ứng dụng phần mềm Greenstone tại Thư Viện Địa lí nhân văn

          - Ứng dụng phần mềm quản lý thư viện số GreenStone trong xây dựng cơ sở dữ liệu toàn văn các đề tài khoa học:  Cách cài đặt phần mềm quản lý thư viện số, quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu toàn văn các đề tài khoa học trên trong Greenstone Librarian Interface (GLI) và vận hành bộ sưu tập toàn văn các đề tài khoa học

          - Nêu được những ưu, nhược điểm, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kho tài liệu toàn văn của thư viện và các bước ứng dụng sau này, điều kiện thực hiện, trong đó bao gồm cả hạ tầng cơ sở.

          Đề tài đã đạt được giá trị về mặt thực tiễn giúp cho cán bộ nghiên cứu trong và ngoài Viện Địa lí nhân văn dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn tài liệu.

          Đề tài được hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 82/100.

 

Trần Ngọc Ánh, Lê Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Ngọc

Các tin cũ hơn.............................