Hội thảo quốc tế 2016 KEI-SEI-LASS-RAC-VASS “Triển khai các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) tại Tiểu vùng Mekong: kết hợp phát triển nông nghiệp thông minh với tăng cường vai trò của phụ nữ”

01/11/2016

Ngày 20/10/2016, tại thành phố Viêng Chăn- Lào, Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào (LASS) phối hợp với Viện Môi trường Hàn Quốc (KEI), Viện Môi trường Stockholm (SEI, Thụy Điển), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) và Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia (RAC)  đã tổ chức hội thảo quốc tế 2016 KEI-SEI-LASS-RAC-VASS về “Triển khai các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) tại Tiểu vùng Mekong: kết hợp phát triển nông nghiệp thông minh với tăng cường vai trò của phụ nữ”

 

 

GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu chào mừng hội thảo

 

 

Đoàn đại biểu Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam chụp ảnh lưu niệm cùng Lãnh đạo các đoàn

 

Sau phiên khai mạc, hội thảo đã nghe các bài tham luận trình bày tại 4 phiên:

Phiên thứ 1: Triển khai Chương trình nghị sự 2030 và các Mục tiêu Phát triển bền vững tại Tiểu vùng Mekong: bắt đầu từ đâu.

Phiên thứ 2: Các nghiên cứu trường hợp quốc gia về khu vực nông nghiệp.

Phiên thứ 3: Nông nghiệp thông minh và nỗ lực hợp tác quốc tế.

Phiên thứ 4: Nông nghiệp thông minh lồng ghép giới.

 

Trong phiên thứ 2, TS.Nguyễn Song Tùng - Phó Viện trưởng Viện Địa lí nhân văn đã trình bày báo cáo tham luận: Phát triển nông nghiệp thông minh ở tiểu vùng sông Mekong: trường hợp của Việt Nam.

 

 

Chủ tọa,  các diễn giả và chuyên gia bình luận ở Phiên thứ 2

 

 

TS. Nguyễn Song Tùng báo cáo bài tham luận

 

Báo cáo đã đề cập đến vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta và những tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp. Báo cáo đã chỉ rõ: nông nghiệp thông minh là một hướng đi mới trong bối cảnh biến đổi khí hậu và làn sóng phát triển khoa học công nghệ lần thứ tư. Do đó, Việt Nam phải xem xét ứng dụng nông nghiệp thông minh để giải quyết các thách thức đang đặt ra cho Việt Nam, trong đó có vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng trưởng xanh và sản xuất nông nghiệp bền vững. Bài tham luận đã tập trung xem xét một số vấn đề về phát triển nông nghiệp thông minh ở Việt Nam thông qua việc ban hành các văn bản chính sách và việc triển khai các mô hình nông nghiệp thông minh gắn với biến đổi khí hậu (Climate Smart Agriculture – CSA, gọi tắt là nông nghiệp thông minh).

Trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam, nông nghiệp thông minh phát triển theo 2 xu hướng:

(i) Nông nghiệp thân thiện với môi trường và thích ứng với thay đổi khí hậu: Con người sẽ tác động vào hệ thống canh tác và các yếu tố đầu vào: giống, phân bón, đất đai, nước…để đạt được yếu tố năng suất, sản lượng vừa giúp cho nông nghiệp trở nên thân thiện với môi trường và thích ứng tốt hơn với thay đổi thời tiết. Bản chất của hoạt động này là không tốn kém và đòi hỏi khoa học kỹ thuật hiện đại, dễ dàng thực hiện ở mọi điều kiện canh tác dù ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún.

(ii) Nông nghiệp thông minh thông qua ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất nông nghiệp. Đặc trưng của loại hình này là ít sử dụng tài nguyên, không phụ thuộc vào thời tiết, ít phải thải, năng suất cao, nhưng lại chỉ áp dụng được ở quy mô lớn và đầu tư nhiều vốn…

Trong những năm vừa qua Việt Nam đã ban hành những chính sách khá kịp thời nhằm ứng phó với BĐKH trên cả hai phương diện giảm nhẹ và thích ứng; tích cực tham gia vào việc triển khai sáng kiến nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu từ năm 2010; tham gia Liên minh toàn cầu về Nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu (GACSA). Việt Nam đã tổ chức thực hiện nhiều mô hình, nhiều dự án nông nghiệp thông minh như: Mô hình áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến; Mô hình canh tác lúa ít phải thải khí nhà kính“1 phải - 6 giảm”; Mô hình chuyển đổi cây trồng trên vùng đất lúa kém hiệu quả; Mô hình nuôi cá – lúa; Mô hình sản xuất cà phê bền vững; Mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu; Mô hình nuôi giun quế; Mô hình trồng rau, hoa công nghệ cao ở Lâm Đồng, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội…

Các mô hình, dự án nói trên đã xử lý được mối quan hệ giữa BĐKH và nông nghiệp, tăng cường nhận thức, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với BĐKH. Nhiều mô hình đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng; nâng cao thu nhập cho người nông dân và góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh BĐKH. Các vấn đề về giới cũng được lồng ghép trong các dự án, mô hình. Phụ nữ đã được tham gia trong quá trình ra quyết định lựa chọn dự án, địa điểm thực hiện, phân bổ các nguồn lực thực hiện, kiểm tra giám sát dự án…

Từ thực trạng ứng dụng các mô hình nông nghiệp thông minh với BĐKH và thực tiễn triển khai các chính sách ứng phó với BĐKH trong thời gian vừa qua, báo cáo cũng đã nêu lên được những khó khăn, thách thức đối với phát triển nông nghiệp thông minh ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển nông nghiệp thông minh với BĐKH ở Việt Nam như sau: (i) Cần nâng cao nhận thức cho các tầng lớp xã hội về vai trò quan trọng của phát triển nông nghiệp thông minh với BĐKH; (ii) Cần đưa chính sách phát triển nông nghiệp thông minh với BĐKH lồng ghép vào các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ cấp quốc gia đến cấp địa phương và các ngành; (iii) Thiết lập và củng cố các thể chế hỗ trợ việc thực hiện chính sách, như: Thể chế hỗ trợ phát triển mạng lưới các nhà cung cấp yếu tố “đầu vào” và các dịch vụ trong nông nghiệp; Thể chế hỗ trợ tài chính; Thể chế hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng; thể chế hỗ trợ ứng dụng công nghệ cho nông nghiệp; (iv) Tiếp tục thực hiện các mô hình thử nghiệm và triển khai những mô hình nông nghiệp thông minh với BĐKH ở một số vùng lựa chọn; (v) Đào tạo nguồn nhân lực; (vi) Thúc đẩy các hình thức liên kết trong nghiên cứu, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thông minh với BĐKH; (vii) Thúc đẩy hợp tác quốc tế trong phát triển nông nghiệp thông minh.

Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu một số nông sản lớn nhất thế giới. Những tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam không chỉ tác động đến thị trường trong nước, mà còn ảnh hưởng đến an ninh lương thực của khu vực và trên thế giới. Việt Nam cần tận dụng những cơ hội của biến đổi khí hậu để tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đầu tư mạnh mẽ vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững và có tính chống chịu cao đối với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, cần phải phát huy vai trò của các chủ thể Nhà nước, nhà doanh nghiệp, hiệp hội, các tổ chức chính trị xã hội và hộ gia đình để tạo sự đồng thuận và huy động được các nguồn lực trong xã hội để đối phó hiệu quả với những thách thức đặt ra trước mắt mà quá trình toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu đang tạo ra./.

Các tin cũ hơn.............................