Viện Địa lí nhân văn tổ chức nghiệm thu hệ đề tài nhiệm vụ cấp cơ sở năm 2015

17/12/2015

Trong 2 ngày từ 03-04/12/2015, tại hội trường tầng 6, số 1 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Viện Địa lí nhân văn với sự đại diện của Ban Quản lí Khoa học - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu hệ đề tài nhiệm vụ cấp cơ sở năm 2015. Các Hội đồng nghiệm thu đã làm việc nghiêm túc, khách quan và khẩn trương  trong quá trình bình xét, nghiệm thu hệ đề tài nhiệm vụ; kết quả, đánh giá chung cho thấy: các đề tài đều được thực hiện đúng tiến độ kế hoạch, đạt chất lượng khá, đạt những bước tiến vượt bậc so với kết quả nghiên cứu năm 2015. Đây là động lực thúc đẩy, khích lệ, đảm bảo cho sự thành công hơn cho hệ đề tài nhiệm vụ cơ sở của Viện Địa lí nhân văn sẽ được thực hiện trong năm 2016.
 

1. Đề tài/ nhiệm vụ: “Tổng quan một số vấn đề về nghiên cứu địa lí du lịch”
Chủ nhiệm: ThS.Bùi Cẩm Tú


 
                      Toàn cảnh nghiệm thu đề tài

Đề tài có mục tiêu là tổng quan các nghiên cứu về địa lí du lịch đã có ở trong và ngoài nước; tổng quan các vấn đề lý luận trong nghiên cứu địa lí du lịch; từ đó, đề tài đề xuất một số hướng nghiên cứu địa lí du lịch ở Việt Nam trong thời gian tới.
Từ lâu, du lịch đã trở thành một ngành quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Phạm vi của hoạt động du lịch cũng ngày càng rộng lớn cùng với quá trình hội nhập kinh tê quốc tế. Chính vì vậy, địa lí du lịch đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu một cách đặc biệt của các nhà kinh tế và địa lí. Có thể chia quá trình nghiên cứu địa lí du lịch trên thế giới theo ba giai đoạn: 1/ Giai đoạn đầu thế kỷ XX – nửa đầu thập niên 30 của thế kỷ XX  với những nghiên cứu về ngành kinh tế du lịch tạo tiền đề cho sự ra đời chuyên ngành địa lí du lịch); 2/ Giai đoạn nửa cuối thập niên 30 đến cuối thế kỷ XX  là quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện địa lý du lịch như một chuyên ngành khoa học với nhiều hướng nghiên cứu chuyên biệt; 3/ Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến nay là sự ra đời của các nghiên cứu tổng hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn về địa lí du lịch). Ở Việt Nam, địa lí du lịch bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1990. Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch để đánh giá tài nguyên – tổ chức lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, các nghiên cứu của địa lí du lịch tập trung vào việc nghiên cứu nhằm dự báo nhu cầu, tiềm năng và các giải pháp chiến lược để phát triển các tuyến, điểm du lịch một cách bền vững.
Về cơ sở lý luận của địa lí du lịch, kết quả nghiên cứu cho thấy: 1/ Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của địa lí du lịch theo thời gian đã dần được hoàn thiện và rõ ràng hơn. Từ những nghiên cứu ban đầu về các dòng khách du lịch, đối tượng nghiên cứu hiện nay của địa lí du lịch là tổ chức lãnh thổ du lịch với các thành tố bên trong của nó cùng với vai trò, chức năng và tác động qua lại giữa chúng; 2/ Các khái niệm cơ bản của địa lí du lịch (du lịch, du khách, cầu du lịch, các dòng khách, các điểm cấp khách) đã được đưa ra với nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu nhưng hệ thống các khái niệm này cũng đang dần được hoàn thiện về phạm vi, chiều sâu và ý nghĩa khoa học của chúng; 3/ Các xu hướng lý thuyết của địa lí du lịch là những hướng lý luận khác nhau về động cơ du lịch của du khách.
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu và các vấn đề lý luận cơ bản của địa lí du lịch, một số hướng nghiên cứu về địa lí du lịch đã được đưa ra: 1/ Hướng nghiên cứu các trung tâm tạo vùng (trung tâm du lịch vùng); 2/ Hướng nghiên cứu nhằm đề xuất liên kết kinh tế trong lĩnh vực du lich; 3/ Hướng nghiên cứu nhằm đề xuất chiến lược hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch; 4/ Hướng nghiên cứu nhằm lập bản đồ đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên phục vụ du lịch.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ vai trò và ý nghĩa kinh tế - văn hóa – xã hội to lớn của du lịch đối với con người và xã hội loài người, cũng như vai trò của chuyên ngành địa lí kinh tế trong việc đưa ra những cơ sở lý luận khoa học quan trọng cho việc tiếp cận với một địa bàn du lịch nhất định nhằm phát triển ngành du lịch cho mỗi vùng miền, mỗi quốc gia.
Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 79.6/100.
 
2. Đề tài/ nhiệm vụ “Tổng quan một số vấn đề lí luận trong nghiên cứu địa lí văn hóa”
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Hòa

Đề tài tập trung làm rõ các nhiệm vụ, mục tiêu và nội dung nghiên cứu. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu lí luận về địa lí văn hóa đã có ở trong và ngoài nước, đề tài rút ra một số vấn đề nghiên cứu cơ sở lí luận về địa lí văn hóa thể hiện trong các tài liệu thu thập được như đối tượng nghiên cứu của Địa lí văn hóa, các lí thuyết của địa lí văn hóa, phương pháp và mục đích ứng dụng của nghiên cứu địa lí văn hóa; Từ đó, đề tài đề xuất quan điểm, định hướng một số hướng nghiên cứu địa lí văn hóa ở Việt Nam trong thời gian tới.
 


                   Toàn cảnh nghiệm thu đề tài
    

  Địa lí văn hóa là một ngành khoa học còn khá mới mẻ ở nước ta. Số lượng các công trình nghiên cứu về địa lí văn hóa ở nước ta còn rất hạn chế. Các công trình nghiên cứu đã có về địa văn hóa hầu hết lại chỉ tập trung vào nội dung cụ thể của địa văn hóa hoặc nhìn địa văn hóa dưới góc độ văn hóa hoặc lịch sử…  Chưa có công trình nghiên cứu nào trong nước nghiên cứu một cách có hệ thống, bài bản về cơ sở lí luận của địa lí văn hóa, dưới góc nhìn của địa lí. Vì thế, đây là một vấn đề đặt ra đối với các nhà nghiên cứu về địa văn hóa nói riêng và địa lí nhân văn nói chung ở nước ta bởi không có ngành khoa học nào phát triển được nếu không có cơ sở lí luận vững chắc và đúng đắn.
Ngược lại với tình hình nghiên cứu trong nước, các công trình nghiên cứu của nước ngoài về cơ sở lí luận của địa lí văn hóa rất phong phú và ngày càng phát triển. Trong số đó có những công trình bao quát về cơ sở lí luận, cách tiếp cận của địa văn hóa, có công trình thể hiện lịch sử hình thành phát triển của địa văn hóa, có công trình thể hiện cả lý thuyết và thực hành nghiên cứu địa văn hóa…
Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề lí luận trong nước và ngoài nước về địa lí văn hóa, kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Địa lí văn hóa là ngành khoa học nhánh trong ngành địa lí nhân văn, nghiên cứu văn hóa theo chiều không gian hay nói cách khác là nghiên cứu sự phân bố trong không gian của văn hóa. Khái niệm văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, tức là: Văn hóa là toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra được gọi là văn hóa. Địa lí văn hóa bắt đầu với quan điểm của trường Bekerley và sau đó được phát triển bởi thuyết địa lí văn hóa mới và quan điểm địa lí học thực chứng của Marx. Ngoài ra, địa lí văn hóa còn có thể được tiếp cận dưới góc độ vùng văn hóa và phân vùng văn hóa với những lý thuyết liên quan như lý thuyết “khuếch tán” văn hóa ở Tây Âu, lý thuyết “Vùng văn hóa” ở Mỹ và lý thuyết “loại hình kinh tế - văn hóa” và “khu vực văn hóa - lịch sử” của dân tộc học Xô Viết.  (2) Áp dụng phương pháp nghiên cứu cả định tính và định lượng, kế thừa các phương pháp nghiên cứu của khoa học địa lí và khoa học xã hội, phương pháp nghiên cứu của địa lí văn hóa khá đặc biệt với đầy đủ những phương pháp đặc trưng của khoa học địa lí như phương pháp bản đồ, GIS, … và cả những phương pháp đặc trưng của khoa học xã hội như phỏng vấn bằng bảng hỏi, thu thập thông tin thứ cấp…Sử dụng những phương pháp này, địa lí văn hóa được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn bởi phạm vi rộng lớn của vấn đề nghiên cứu.
Trên cơ sở tìm hiểu các khái niệm, lý thuyết, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của của địa lí văn hóa, đề tài đề xuất 2 hướng nghiên cứu tiếp theo cho Phòng địa lí văn hóa như sau: (1) Tiếp tục nghiên cứu sâu về những vấn đề lí luận và thực tiễn trong nghiên cứu địa lí văn hóa và (2) Nghiên cứu các đặc trưng  của các vùng văn hóa trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và dân cư sinh sống.Các kết quả nghiên cứu của Đề tài giúp các nhà nghiên cứu có một cái nhìn khái quát về vấn đề về cơ sở lí luận trong nghiên cứu địa lí văn hóa, hứa hẹn sẽ là một ngành khoa học sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
     Đề tài được hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 78/100


3. Đề tài/ nhiệm vụ: “Tổng quan chính sách pháp luật về biển đảo”
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt

Đề tài có mục tiêu là tổng quan các chính sách, pháp luật về biển nhằm đưa ra một số nhận xét về hệ thống pháp luật hiện hành về biển; từ đó, đề tài khuyến nghị một số giải pháp cơ bản về hoàn thiện bộ máy quản lý và thực thi chính sách biển.
Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản để luật hóa, cụ thể hóa theo từng lĩnh vực của các điều ước quốc tế về biển. Trên cơ sở tổng quan các chính sách, pháp luật về biển trong và ngoài nước, kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy: 1/Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển đảo của Việt Nam bước đầu đã tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho việc tăng cường quản lý nhà nước trên biển, làm cơ sở điều chỉnh các hoạt động trên biển đối với các vấn đề xác định phạm vi và chế độ pháp lý của từng vùng biển cụ thể; 2/Khẳng định chủ quyền, các quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, các quyền và lợi ích quốc gia đối với từng vùng biển, thềm lục địa của Việt Nam; 3/Tăng cường quản lý nhà nước về biển, đảo; giải quyết vấn đề hoạch định ranh giới giữa các vùng biển và thềm lục địa với các nước láng giềng; tạo cơ sở và điều kiện cho việc phát triển các ngành kinh tế biển, tăng cường hợp tác quốc tế trên biển; bảo vệ môi trường và sinh thái biển, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự trên biển và hải đảo.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật về biển của Việt Nam còn tồn tại những hạn chế: 1/Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển, đảo còn thiếu tính đồng bộ, chưa đầy đủ, chủ yếu phục vụ cho công tác quản lý nhà nước của từng ngành, từng lĩnh vực. 2/Lĩnh vực quản lý nhà nước về biển đã được đề cập nhiều xong chưa phân định rõ cơ quan chủ trì thực hiện chức năng quản lý đối với từng lĩnh vực hoạt động cụ thể. 3/Việc hệ thống hóa, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến biển, đảo; việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật về biển đảo đã được tiến hành nhưng chưa thường xuyên, rộng khắp. 4/Các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường cũng mang tính chất chung chung và còn thiếu tính thực tế trong một số luật. Cho đến thời điểm hiện nay, việc quản lý môi trường biển, ven biển và hải đảo vẫn tiến hành theo khuôn mẫu theo cách tiếp cận  ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, chưa tính đến vấn đề ô nhiễm biển xuyên biên giới, đa ngành... Công tác quản lý về bảo vệ môi trường biển, đến nay còn phân tán, dẫn đến sự thiếu liên hệ, sự phối hợp giữa các bộ ngành trong công tác xây dựng, quản lý và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường biển đảo. Mới đây, tháng 7 năm 2015, Việt Nam đã xây dựng luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo, trong luật đã có những quy định rõ ràng hơn trong việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo. 5/Việc thi hành các công cụ pháp lý trên biển còn gặp nhiều khó khăn như về tài chính, năng lực và thể chế…
Từ thực trạng hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến biển, đảo; đánh giá, phân tích xu hướng quản lý biển, đảo của một số quốc gia trên thế giới; căn cứ vào định hướng, nguyên tắc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về biển, đảo, đề tài đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật biển, đảo Việt Nam như: đẩy nhanh tiến độ tổng hợp rà soát, hệ thống hóa toàn bộ các văn bản; nội luật hóa các quy định Công ước Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế về biển mà Việt Nam đã tham gia, bám sát vào Luật Biển và Luật Tài nguyên Môi trường biển và hải đảo; tổng điều tra, đo đạc, khảo sát, đánh giá hiện trạng tài nguyên, môi trường biển của Việt Nam; tập trung tuyên truyền pháp luật về biển, đảo và các điều ước quốc tế về biển mà Việt Nam tham gia; đồng thời bổ sung cung cấp những tư liệu lịch sử và pháp lý cho bạn bè quốc tế khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Đề tài đã hệ thống hóa các văn bản chính sách, pháp luật về biển đảo thống nhất, toàn diện, bao quát mọi hoạt động trên biển, phù hợp với luật pháp quốc tế đóng vai trò quan trọng trong phát triển  kinh tế-xã hội, chính trị và môi trường đối với mỗi quốc gia nói chung và các quốc gia ven biển nói riêng.
    Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 82/100.


4. Đề tài/ nhiệm vụ: “Giải pháp quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn qua nghiên cứu trường hợp ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định”
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Cao Thị Thanh Nga
Thành viên tham gia: CN. Đinh Thị Lam:

 


                                                              Toàn cảnh nghiệm thu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là : tổng quan cơ sở lý luận về quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn; phản ánh thực trạng quản lý rừng ngập mặn ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy; trên cơ sở đó, đề tài đề xuất một số giải pháp quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
Báo cáo kết quả đề tài cho thấy: 1/Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại, mọi tài nguyên trong vườn quốc gia cần phải được bảo vệ gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ năm này sang năm khác, cấm mọi sự xâm nhập từ bên ngoài có ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái tự nhiên phong phú của đất nước. 2/Rừng ngập mặn là một tập hợp những quần xã các cây chịu được mặn; Có khả năng tự làm sạch môi trường; Có nhiều lợi ích cho con người, động thực vật và môi trường sinh thái. 3/ Rừng ngập mặn có vai trò rất lớn đối với tự nhiên cũng như con người như cung cấp sinh kế, bảo vệ chống lại thiên nhiên, giảm xói lở và bảo vệ đất, giảm ô nhiễm, giảm tác động của biến đổi khí hậu, cung cấp thức ăn và môi trường sống cho nhiều loài động vật, duy trì đa dạng sinh học. Nó có đóng góp về nhiều mặt như kinh tế - xã hội, sinh thái và môi trường. Vì vậy, việc bảo vệ và quản lý rừng ngập mặn có ý nghĩa rất quan trọng.
Đối với vườn quốc gia Xuân Thủy, việc quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn còn nhiều vấn đề tồn tại và khó khăn. Nguyên nhân của vấn đề này là do dân số vùng quá đông, không có công ăn việc làm, con người phụ thuộc vào tài nguyên rừng ngập mặn nên đã gây ra sức ép đối với vườn quốc gia Xuân Thủy về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học đồng thời gắn với phát triển sinh kế bền vững cho người dân được đặt lên hàng đầu. Thực trạng Vườn quốc gia Xuân Thủy đã phản ánh: 1/Bộ máy tổ chức, lực lượng quản lý rừng ngập mặn thì chồng chéo trong phân cấp quản lý và xử lý vi phạm, ban quản lý rừng không có chức năng xử phạt; Cơ sở vật chất, con người chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, điển hình là nguồn nhân lực có kiến thức chuyên ngành cho vườn quốc gia, đồng thời kinh phí cho việc quản lý cũng hạn chế, cơ chế tài chính của vườn quốc gia vẫn là cơ chế xin cho; Sự phối kết hợp giữa các ban ngành để quản lý rừng ngập mặn vườn quốc gia Xuân Thủy chưa thực sự hiệu quả. 2/ Việc bảo vệ tài nguyên rừng ngập mặn gặp không ít khó khăn do hoạt động nuôi trồng thủy hải sản, sinh kế của người dân với số lượng quá mức cho phép gây ô nhiễm môi trường đất, nước.
Từ thực trạng nghiên cứu, đề tài đã đề xuất một số nhóm giải pháp để quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn Xuân Thủy như: nhóm giải pháp về chính sách, nhóm giải pháp về kinh tế tài chính, nhóm giải pháp về kỹ thuật, nhóm giải pháp về quản lý bảo tồn, ….nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân cũng như môi trường ở đây.
    Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 82/100.

 
5. Đề tài/nhiệm vụ:“Tổng quan các chính sách ưu đãi hiện hành của Nhà nước đối với  các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam”
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Phạm Mạnh Hoà
Thành viên tham gia: CN. Hà Huy Ngọc

Mục tiêu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chính sách đối với vùng kinh tế trọng điểm; đánh giá tổng quan các  tổng quan các chính sách ưu đãi hiện hành đối với vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam; từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách đối với vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
Thời gian qua, Nhà nước đã thành lập 4 vùng kinh tế trọng điểm với hai mục tiêu rất rõ ràng đó là biến những vùng này thành các cực tăng trưởng và từ đó thông qua tác động lan tỏa kéo các tỉnh xung quanh cùng phát triển. Để thực hiện hai mục tiêu trên, Nhà nước đã ban hành rất nhiều những chính sách ưu đãi áp dụng cho các vùng này bao gồm các chính sách về kinh tế, xã hội và môi trường. Thông qua việc đánh giá những chính sách trên, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kết luận.
Thứ nhất, những chính sách ưu đãi áp dụng cho các vùng kinh tế trọng điểm thời gian qua còn thiếu tính khả thi do còn quá chung chung và thiếu sự gắn kết với các nguồn lực thực hiện, trừ các chính sách về thuế, đất đai và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Thứ hai, nhiều chính sách áp dụng cho vùng kinh tế trọng điểm không hợp lý, mà nổi bật là sự đầu tư dàn trải quá nhiều những công trình hạ tầng, như sân bay, bến cảng, khu công nghiệp,..trong khi không sử dụng hết công suất của những khu này dẫn đến lãng phí và thiếu hiệu quả. Thứ ba, những chính sách ưu đãi áp dụng cho các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận đó là thúc đẩy phát triển kinh tế của các vùng kinh tế trọng điểm này. Tuy nhiên, những chính sách này chưa giúp tạo ra hiệu ứng lan tỏa từ các vùng kinh tế trọng điểm sang các vùng lân cận. Từ những nhận định trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số những gợi ý chính sách cho vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam trong thời gian tới, như là chính sách về không gian, quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm, tổ chức điều phối, liên kết vùng, cơ chế điều phối, tài chính cho vùng, Hội đồng vùng …
Do hạn chế về mặt thời gian và nguồn lực nên đề tài này vẫn còn nhiều hạn chế và vấn đề phát triển vùng cũng là một nội dung rộng cần được tiếp tục nghiên cứu. Hi vọng rằng trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều những nghiên cứu liên quan để góp phần hoàn thiện mô hình phát triển vùng tại Việt Nam. Những đóng góp của đề tài được đánh giá loại khá tại hội đồng nghiệm thu, đề tài đạt số điểm trung bình 86,6/100.


6. Đề tài/nhiệm vụ: “Tổng quan nghiên cứu hội nhập vùng trong phát triển kinh tế”
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Phạm Thị Trầm

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là tổng quan các nghiên cứu về hội nhập vùng trong phát triển kinh tế. Để thực hiện được mục tiêu đó, đề tài đã đặt ra ba nhiệm vụ cụ thể : 1/ Tổng quan các lý thuyết phát triển kinh tế và phát triển vùng ; 2/ Tổng quan các nội dung cơ bản của hội nhập vùng ; 3/ Tổng quan các công trình nghiên cứu về hội nhập vùng trong phát triển kinh tế ở ngoài nước và trong nước.
Trong phần thứ nhất, tác giả đã trình bày những khái niệm cơ bản về hội nhập vùng, lịch sử của vấn đề hội nhập vùng và tổng quan các lý thuyết phát triển kinh tế và phát triển vùng. Đặc biệt, trọng tâm của nội dung này là nghiên cứu và phân tích các lý thuyết phát triển kinh tế và phát triển vùng như: lý thuyết phát triển kinh tế phân kỳ, lý thuyết phát triển không cân đối (unbalanced growth) hay các "cực tăng trưởng", lý thuyết kinh tế học xanh, lý thuyết hội tụ kinh tế vùng, lý thuyết về lợi thế so sánh…
Phần thứ hai, nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc phân tích các nội dung, điều kiện và nguyên tắc hội nhập vùng. Trong đó, tác giả nhấn mạnh rằng hội nhập vùng có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất (mức độ gắn kết), hình thức (song phương, đa phương) và phạm vi (khu vực, liên khu vực, toàn cầu) khác nhau.
Trên cơ sở trình bày và phân tích các vấn đề lý luận cơ bản (các lý thuyết về hội nhập vùng, khái niệm và nội dung hội nhập vùng), đề tài đã tổng quan các công trình nghiên cứu về hội nhập vùng trong và ngoài nước. Ở trong nước, các công trình nghiên cứu về hội nhập vùng được tác giả tổng hợp theo hai nhóm vấn đề: các nghiên cứu liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế; các nghiên cứu về vùng và hợp tác vùng. Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hội nhập vùng bao gồm: các nghiên cứu về hội nhập vùng trên qui mô toàn cầu và khu vực, các nghiên cứu liên quan đến hội nhập vùng ở phạm vi quốc gia, các nghiên cứu về hội nhập vùng trên các tiếp cận định hướng thị trường và thể chế chính sách. Từ những khoảng trống và các vấn đề quan trọng trong nghiên cứu hội nhập vùng, tác giả đã đề xuất một số định hướng nghiên cứu hội nhập vùng trong thời gian tới: nghiên cứu các lý thuyết địa kinh tế mới; đánh giá điều kiện phát triển nền kinh tế xanh ở Việt Nam; nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng các thể chế, chính sách phục vụ hội nhập vùng trong phát triển kinh tế của các địa phương trên cả nước nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Từ các kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã cho thấy vai trò cũng như ý nghĩa lý luận, thực tiễn của vấn đề hội nhập vùng nhằm tạo cơ sở lý luận khoa học quan trọng cho việc tiếp cận và nghiên các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác vùng, quy hoạch và phát triển các vùng kinh tế…
Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 81.8/100.

 
7. Đề tài/nhiệm vụ: “ Tổng quan một số vấn đề về địa lí dân cư ”
Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Thị Tuyết

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm xác lập cơ sở lí luận về nghiên cứu địa lí dân cư. Theo đó, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm ba phần: 1/ Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến địa lí dân cư; 2/ Cơ sở lý luận về địa lí dân cư; 3/ Đề xuất xu hướng nghiên cứu địa lí dân cư phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của phòng Địa lí dân cư trong những năm tới.
Trong nội dung nghiên cứu đầu tiên, tác giả đã cho thấy có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về địa lí dân cư và các tư liệu này chủ yếu tập trung ở các nhóm chủ đề chính: di dân; phân bố cư trú; phân bố nguồn lao động theo lãnh thổ; đô thị hóa và mối quan hệ giữa dân cư với phát triển và môi trường. Đặc biệt, đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả đã nêu lịch sử ra đời Viện Địa lí Nhân văn (từ tiền thân là Ban Địa lí kinh tế thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập năm 1979) và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đối với vấn đề địa lí dân cư được đặt ra theo từng thời kỳ.
Tiếp theo đó, đề tài đã trình bày hệ thống cơ sở lý luận về địa lí dân cư, bao gồm: các khái niệm liên quan (địa lí dân cư, di dân, quần cư, phân bố lực lượng sản xuất, đô thị hóa); nội hàm và lịch sử đối tượng nghiên cứu của địa lí dân cư; các quan điểm trong nghiên cứu địa lí dân cư (quan điểm hệ thống, quan điểm tổng hợp, quan điểm lịch sử, quan điểm phát triển bền vững); các phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu địa lí dân cư (phương pháp khảo sát thực địa, phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu, Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS))
Trên cơ sở trình bày lịch sử hình thành chuyên ngành địa lí dân cư, tổng quan các công trình nghiên cứu trong, ngoài nước và hệ thống cơ sở lý luận của địa lí dân cư, một số hướng nghiên cứu đã được đề xuất: 1/ Bối cảnh hiện nay tác động đến vấn đề nghiên cứu ; 2/ Hướng tiếp cận địa lí liên ngành trong nghiên cứu dân cư ; 3/ Xu hướng nghiên cứu địa lí dân cư trong giai đoạn 2016-2020 của Phòng Địa lí Dân cư (cơ sở lý luận và thực tế nghiên cứu chủ đề di dân, phân bố cư trú, mối quan hệ giữa dân cư với phát triển môi trường và biến đổi khí hậu).
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ vai trò và ý nghĩa kinh tế - văn hóa – xã hội to lớn của chuyên ngành địa lí dân cư trong việc đưa ra những cơ sở lý luận khoa học quan trọng cho việc tiếp cận và nghiên cứu các đặc trưng, sự biến động, phân bố không gian và biến đổi theo thời gian của tiến trình dân cư trong một không gian lãnh thổ nhất định bằng việc trả lời các câu hỏi: những thay đổi không gian trong phân bố và gia tăng dân cư diễn ra như thế nào? Sự phân bố và gia tăng này có liên quan đến sự thay đổi không gian trong hoàn cảnh địa lí nào? và Tác động của nó đến phát triển kinh tế, thay đổi sinh thái và các vấn đề xã hội ra sao?
Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 86.2/100

 
8. Đề tài/nhiệm vụ: “Vấn đề phục hồi sinh kế bền vững cho các hộ tái định cư ở dự án thủy điện sông Bung 4 tỉnh Quảng nam”
Chủ nhiệm đề tài: CVC.CN Nguyễn Ngọc Trí

Mục tiêu cửa đề tài là nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp phục hồi sinh kế bền vững cho các hộ tái định cư ở dự án thủy điện sông Bung 4 tỉnh Quảng nam. Để thực hiện mục tiêu này, đề tài đã xác định ba mục tiêu cụ thể: 1/ Đánh giá thực trạng sinh kế của các hộ tái định cư của dự án thủy điện sông Bung 4; 2/ Phân tích nguyên nhân những tồn tại và những bất cập do hậu quả của việc di dời tái định cư; 3/ Đề xuất một số giải pháp phục hồi sinh kế nhằm ổn định và nâng cao đời sống sản xuất của các hộ tái định cư theo hướng bền vững.
Mô hình sinh kế chủ yếu của đồng bào Cơ Tu trong vùng dự án là canh tác nương rẫy, trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm, tham gia trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Các hoạt động sinh kế của người dân tái định cư đều dựa vào khai thác thô các nguồn tài nguyên rừng, phụ thuộc vào thiên nhiên như sông suối, mây tre, chim muông, thú rừng,...
Tuy nhiên, những khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu đất sản xuất; phương thức sản xuất lạc hậu; không thể vào rừng để khai hoang, kiếm sống như trước… gây ra nhiều trở ngại cho việc chuyển đổi mô hình sinh kế của người dân. Việc sử dụng đất vùng bán ngập ven hồ thủy điện là một giải pháp quan trọng để cải thiện đất canh tác cho các hộ tái định cư nhưng điều kiện đi lại từ khu tái định cư đề vùng đất bán ngập  rất khó khăn (không đi được bằng phương tiện cơ giới, chủ yếu là đi bộ); lịch trình bơm xả nước giữ mực nước phụ thuộc quy định của Nhà máy thủy điện.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích những nguyên nhân còn tồn tại và những bất cập do hậu quả của việc di dời tái định cư đối với các hộ thuộc dự án thủy điện sông Bung 4 tỉnh Quảng nam, đề tài đã đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo sinh kế bền vững cũng như nâng cao đời sống cho các hộ tái định cư như: Tập huấn kỹ năng canh tác nơi mới nhằm chuyển đổi mô hình sinh kế; Phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong giải quyết các vấn đề di dân và bố trí sắp xếp tái định cư; Tạo thị trường tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp của người dân tái định cư; Tận dụng đất bán ngập, cần có nghiên cứu định hướng người dân sản xuất cây giống, vật nuôi phù hợp và tận dụng nước mặt hồ nuôi trồng thủy sản thích hợp; Khuyến khích người dân sử dụng tiền đền bù hữu ích như gửi tiết kiệm, đầu tư vào các hoạt động sinh kế và tạo dựng quỹ phát triển sinh kế cho những người tái định cư).
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn cao, thông tin dữ liệu có nguồn gốc rõ ràng, sát thực, có thể làm tư liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu về phục hồi sinh kế bền vững cho các dự án đầu tư xây dựng thủy điện nói riêng và các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung ở Việt Nam.
Đề tài được Hội đồng xếp loại Khá với số điểm trung bình 73.6/100

Mai Hải Linh, Nguyễn Thu Hà, Bùi Thị Cẩm Tú




 




 

Các tin cũ hơn.............................