Vài suy nghĩ về vai trò và vị trí của khoa học Địa Lí trong Viện Khoa học xã hội Việt Nam

01/03/2016

 GS.TS. VŨ TỰ LẬP   

  Nguyên Giám đốc Trung tâm Địa lý kinh tế-xã hội

Khoa học Địa Lý là một trong những nhu cầu cơ bản của xã hội loài người, do đó mà có một lịch sử rất lâu đời, từ thời kỳ cổ đại cho đến tận ngày nay. Mỗi một con người và cả xã hội đều sinh sống, sản xuất, đấu tranh trên một không gian lãnh thổ to nhỏ nào đó, tìm cách chiếm hữu nó, tìm hiểu và khai thác, bảo vệ hay mở rộng nó để phát triển. Thuyết “Thiên- Địa- Nhân” đã trở thành triết lý cổ nhất và cốt lõi nhất của kho tàng kiến thức đồ sộ của con người và tất yếu “địa lợi” là một chân vững chắc của kiềng ba chân “Thiên thời- Địa lợi- Nhân hòa”. Không có tri thức địa lý đúng và vững thì khó mà đảm bảo được cho sự thành công của mọi hoạt động từ nhỏ đến lớn, và ngày nay là khó mà đảm bảo cho sự phát triển được gọi là bền vững.

       Ngay từ thủa ban đầu, tri thức địa lý đã là sự hiểu biết toàn diện, tổng hợp về không gian lãnh thổ, trước hết là xác định vị trí cụ thể của nó trên bề mặt quả đất, tìm hiểu đường đi lối lại, địa giới và tương quan với các không gian xa gần, liền kề, hay bao quanh. Sau đó, tìm hiểu các nguồn sinh sống là các điều kiện và tài nguyên tự nhiên như địa hình, đất đá, khí hậu và thời tiết, sông suối, cây cỏ và động vật cùng với các bộ tộc, các phương thức sản xuất, các nền văn hóa đang khai thác không gian lãnh thổ.

      Vì thế, việc nghiên cứu đầy đủ cấu trúc hợp phần của lãnh thổ từ yếu tố tự nhiên đến yếu tố kinh tế- xã hội- nhân văn và cấu trúc không gian của các vùng lớn nhỏ cấu thành hay liên quan, chứ không phải chỉ là lãnh thổ đang xét, mới là quan điểm cơ bản nhất của khoa học địa lý từ xưa đến nay, mà ai đã dính dáng đến việc quản lý và khai thác không gian lãnh thổ đều phải chú ý thực hiện. Quan điểm địa lý đó, chiều không gian mà nó xác định, là đóng góp cơ bản nhất của khoa học địa lý đối với xã hội, đi vào các ngành chuyên sâu qua nền tảng địa lý như Địa- chính trị, Địa- chiến lược, Địa- kinh tế, Địa- văn hóa v.v....

       Đã cần chiều không gian thì tất yếu phải cần đến bản đồ, cho nên bản đồ đã trở thành ngôn ngữ của địa lý. Khi không cần đến bản đồ mà cũng giải quyết được vấn đề thì vấn đề đó không thuộc về chức năng nhiệm vụ của địa lý. Cho nên trên thế giới, điển hình là nước Pháp, các viện Địa lý thường tập trung đầu tiên vào việc xây dựng bản đồ các loại và các tỷ lệ, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà “Hệ thống thông tin địa lý- GIS” đã trở thành phổ biến và xâm nhập vào nhiều ngành, khi mà bản đồ tự động, ảnh vệ tinh, hệ thống định vị toàn cầu là nhu cầu gần như không thể thiếu được của mọi ngành, mọi lĩnh vực.

       Với đặc điểm về cấu trúc và chức năng như thế, tính chất xã hội hiển nhiên là nằm trong bản chất của khoa học địa lý và khoa học địa lý phải nằm trong hệ thống các khoa học xã hội, dù cho nội dung tự nhiên của nó cũng quan trọng tới mức có lúc, có nơi người ta xếp nó vào trong hệ thống các khoa học tự nhiên. Thực ra khoa học địa lý là khoa học về mối quan hệ thống nhất giữa môi trường tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội, cho nên xếp vào đâu cũng có tính quy ước. Nhưng từ khi vai trò tác động của xã hội đến môi trường tự nhiên đã lớn tới mức trở thành tác nhân chính chi phối sự biến đổi của môi trường tự nhiên, thí dụ như sự biến động của khí hậu toàn cầu, sự ô nhiễm không khí, đất đai, nguồn nước, sự cạn kiệt của tài nguyên khoáng sản, sự hủy diệt của nhiều loài thực vật và động vật theo hướng mà ngay từ thế kỷ XVIII nhà thực vật học Lamác (Lamark 1744- 1829) đã e ngại khi viết: “Có thể nói rằng mục đích của con người dường như bước đầu làm cho trái đất trở thành nơi không thuận lợi cho sự sống để rồi bị tiêu diệt”, thì sự thiên về khoa học xã hội của địa lý đã khiến cho địa lý trở thành năng động hơn, bám sát các hoạt động gây bức xúc trong xã hội, tham gia tích cực vào các hoạch định chính sách phát triển bền vững, vào sự thông qua các quy hoạch sử dụng không gian lãnh thổ cả đô thị lẫn nông thôn, vào việc bảo vệ và cải tạo môi trường tự nhiên một cách tự giác.

       Đối với nước ta thì ngay từ xa xưa ông cha ta cũng đã sử dụng địa lý như là một khoa học xã hội trợ giúp đắc lực cho việc quản lý đất nước. Chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, rất coi trọng địa lý và bản đồ, các Nhà nước phong kiến độc lập tự chủ Việt Nam đã thúc đẩy việc mô tả toàn lãnh thổ xuống đến các đơn vị hành chính địa phương, đặc biệt chú ý đến các tài nguyên và các sản vật có thể khai thác, cống nạp.

             Công trình địa lý chính thống điển hình và sớm nhất là cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, soạn vào đầu thế kỷ XV (1435) để dâng lên vua Lê Thái Tông và được nhà vua coi như “chính thư” của quốc gia. Sách gồm 54 mục như vị trí địa lý, hình thế núi sông, thổ nhưỡng, đặc sản, lịch sử, tập quán cư dân, nghề thủ công v.v....

 Đến thế kỷ XVIII có cuốn “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn (1773), một bách khoa thư có 9 đề mục, trong đó liên quan đến địa lý là mục 1 (lý khí), mục 2 (hình tượng), mục 3 (khu vũ), mục 9 (sản phẩm, vật dụng), và như thế địa lý thường kết hợp với lịch sử như địa lý cổ đại trên thế giới. Đến năm 1776, Lê Quý Đôn lại biên soạn cuốn “Phủ biên tạp lục”, viết về các xứ ở “Đàng Trong”, nhất là về 2 xứ Thuận- Quảng, trong đó địa lý nằm ở phần 2 (núi sông), phần 4 (thượng du, biên phòng).

Đến thế kỷ XIX, thời triều Nguyễn, có Phan Huy Chú biên soạn bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” (1819) cũng là một bộ bách khoa thư gồm 49 quyển nói về đất nước Việt Nam từ thời dựng nước đến thời Hậu Lê, trong đó phần 1 là “Dư địa chí” viết về địa lý và lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, Phan Huy Chú còn viết cuốn “Hoàng Việt Dư địa chí” (1833) gồm 2 quyển nói về 24 tỉnh (xuống đến tận cấp phủ) trong cả nước.

Khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ thì địa lý là độc quyền của người Pháp, các công trình nghiên cứu, vẽ bản đồ đều do các nhà khoa học người Pháp thực hiện. Địa lý không được đào tạo chuyên ngành ở bậc cao (dự bị đại học và đại học) như Lý- Hóa- Sinh (PCB), Y học, Nông- Lâm nghiệp, Luật học. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển khoa học địa lý ở nước ta, vì các nhà địa lý đầu tiên đứng ra thành lập ngành tuy có tâm huyết nhưng không phải là địa lý chuyên nghiệp.

      Sau cách mạng tháng 8- 1945, việc nghiên cứu địa lý được Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm, bằng chứng là sự ra đời của Ban nghiên cứu Lịch sử- Địa lý- Văn học ngày 2- 12- 1953 tại chiến khu Tân Trào, ngay trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt và được trực thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng (Quyết định số 34/NQ/TW ngày 2- 12- 1953). Từ giữa năm 1954 Ban được đổi tên thành Ban nghiên cứu Văn học- Lịch sử- Địa lý, gọi tắt là Ban nghiên cứu Văn- Sử- Địa với nhiệm vụ được ghi rõ ràng là:             

              a) Sưu tầm và nghiên cứu những tài liệu về lịch sử, địa lý và văn học Việt Nam và biên soạn những tài liệu về sử học, địa lý, văn học Việt Nam.

              b) Nghiên cứu và giới thiệu lịch sử, địa lý, văn học các nước bạn. (Trích trong cuốn “Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia- 50 năm xây dựng và phát triển- GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ biên- Trang 11- Dòng 4- 8). Như thế, ngành địa lý từ thủa ban đầu đã được xếp vào hệ thống các khoa học xã hội chủ chốt, và phải nghiên cứu cả địa lý nước nhà và địa lý các nước trên thế giới, một nhiệm vụ rất lớn và nặng nề, nhưng rất vẻ vang nếu thực hiện được tốt.

      Bước ngoặt lịch sử đối với riêng ngành Địa lý là từ tháng 9 năm 1956, Đảng và Nhà nước quyết định chuyển Ban Văn- Sử- Địa trực thuộc Ban Bí thư Trung ương Đảng sang trực thuộc Bộ Giáo dục. Tổ Địa lý trong Ban Văn- Sử- Địa do đồng chí Lê Xuân Phương làm tổ trưởng rời khỏi Ban Văn- Sử- Địa và chuyển về trường Đại học Sư phạm Hà nội, lúc đó do GS Phạm Huy Thông, Thạc sĩ Sử- Địa tốt nghiệp ở Pháp, làm hiệu trưởng và sáp nhập vào khoa địa lý do GS Nguyễn Đức Chính làm chủ nhiệm. Vì thế khi thành lập Ban Khoa học Xã hội sau là Viện Khoa học xã hội trong Ủy ban Khoa học Nhà Nước, thì các Viện Sử học và Văn học được xây dựng cùng với Viện Kinh tế, Tổ Triết học, Tổ luật học, còn ngành địa lý thì không. Tuy Viện Khoa học xã hội không có một tổ chức nghiên cứu địa lý chính thức, Đảng và Nhà nước vẫn giao cho nhiệm vụ biên soạn để sớm công bố cuốn “Địa lý Việt Nam”. Công việc này được bắt đầu từ 1969 và được xúc tiến mạnh vào các năm sau (Trích cuốn “Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia- 50 năm xây dựng và phát triển- GS.VS Nguyễn Duy Quý chủ biên- Trang 25- Dòng 10-14).

Chính đây là một trong những cơ sở cho sự tái ra đời “Ban Địa lý” tại Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 1979 do GS.Trần Đình Gián làm Trưởng ban và Ban Địa lý đã hoàn thành và xuất bản cuốn “Địa lý Việt Nam” - GS Trần Đình Gián chủ biên- Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 1990”.

Trong 30 năm xây dựng và phát triển (1979 – 2009) với nhiều tên gọi khác nhau, Ban Địa lý (1979), Trung tâm Địa lý Kinh tế- Xã hội (1988), rồi Trung tâm nghiên cứu Địa lý Nhân Văn (1994) và nay là Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững (2004), ngành Địa lý cũng đã đóng góp cho xã hội nhiều công trình nghiên cứu, có công trình đã xuất bản, có công trình chưa xuất bản, trong đó xin kể ra vài công trình như sau:

Về địa lý Việt Nam, đã xuất bản các công trình nghiên cứu không gian lãnh thổ cấp toàn quốc như “Địa lý Việt Nam” (1990), “ATLAT Việt Nam” in 3 thứ tiếng Việt- Pháp- Anh (1994); cấp khu vực có cuốn “Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Hồng” (1991), cấp tỉnh có “Tập bản đồ địa lý địa phương” 44 tỉnh và Thành phố TW” lúc đó (1996). Ngoài ra đã tham gia tích cực vào việc biên soạn các mục từ Địa lý trong bộ Từ điển Bách Khoa Việt Nam 4 tập (1995 – 2005).

     Về địa lý thế giới, đã xuất bản các sách dịch như cuốn “Tình hình thế giới” niên san các năm 1990 -1991 của nhà xuất bản Pháp “La Découverte” (các năm tiếp theo thì chuyển giao cho Nhà xuất bản Khoa học xã hội tự đứng ra dịch và in), cuốn “Những vấn đề địa- chính trị- Hồi giáo- Biển- Châu Phi” của Yves Lacoste (1991) và biên soạn cuốn “Thủ đô các nước trên thế giới” (1998).

      Các công trình nghiên cứu lưu trữ tại Viện nhưng chưa xuất bản thì đối với cấp toàn quốc có “Hiện trạng phân công lao động theo lãnh thổ” (1990), “Phân kiểu nông nghiệp Việt Nam” (1993). Đối với cấp tỉnh có bản thảo Bộ “Địa lý địa phương 44 tỉnh và thành phố TW” (1993). Cấp huyện có “Địa lý huyện Phù Cát”, tỉnh Nghĩa Bình (1986); cấp xã có “Đất nông nghiệp 6 Xã phía tây huyện Phù Cát”(1988); cấp thôn có “Phân hạng đất Hợp tác xã Cát Hanh I và Hợp tác xã Cát Hanh II, huyện Phù Cát” để phục vụ khoán ruộng trong nông nghiệp (1988).

Về các hoạt động khoa học khác có:

- Chủ trì và tổ chức thành công “Hội nghị địa lý toàn quốc” (1982).

- Tham gia “Hội nghị địa lý quốc tế lần thứ 25 tại Paris, Pháp”(1984).

- Tham gia “Hội nghị quốc tế giáo viên Sử- Địa tại Lille, Pháp” (1989).

- Tham gia “Hội thảo quốc tế về địa lý” tại Paris, Pháp (1990).

- Thực hiện các công trình nghiên cứu hợp tác quốc tế với Liên xô cũ, Pháp, Canada....

         Về phương diện đào tạo cán bộ trên đại học, đã đào tạo thành công 5 tiến sĩ địa lý tại Liên xô cũ, 01 tiến sĩ địa lý tại Pháp, 05 tiến sĩ địa lý tại Việt Nam và 02 thạc sĩ địa lý tại Việt Nam.

Đó là những nỗ lực lớn lao và cũng là những kết quả đáng tự hào của các nhà địa lý học đóng góp vào thành tựu chung của khoa học xã hội từ khi thành lập Ban Địa lý kinh tế (1979) trong cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Khoa học xã hội lúc bấy giờ và Viện Khoa học xã hội hiện nay.

Không kể việc nghiên cứu các loại không gian khác như “cảnh quan tự nhiên”, “cảnh quan văn hóa”, “cảnh quan quần cư”, riêng việc nghiên cứu các không gian hành chính của Việt Nam (bao gồm 63 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, 662 quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, 10776 xã, phường, thị trấn) một cách nghiêm chỉnh, có giá trị lâu dài, nêu lên được những nét đặc trưng cơ bản tiêu biểu, rút ra từ những mối liên hệ có tính quy luật rõ ràng giữa đất nước, con người và các hoạt động kinh tế- xã hội của mỗi nơi và cả những quan hệ khách quan mật thiết giữa các địa phương với nhau, để làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của toàn đất nước và của từng địa phương, cũng đã là một công việc đồ sộ, khó khăn, đòi hỏi phải có những người tâm huyết trong khoa học, có năng lực về chuyên môn, có thời gian, có sự giúp đỡ của chính quyền các cấp và của nhiều người trong xã hội.

Kể từ khi Trung tâm Địa lý nhân văn được đổi thành Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững (năm 2004), các cán bộ được đào tạo về chuyên ngành địa lý đã sử dụng những kiến thức cơ bản về khoa học địa lý vào nghiên cứu những vấn đề quan trọng liên quan đến môi trường và phát triển bền vững như: vấn đề di dân và phát triển bền vững trên các vùng kinh tế-lãnh thổ; vấn đề di chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và những hệ lụy của nó đối với phát triển kinh tế-xã hội và môi trường ở các đô thị; tác động của các yếu tố và điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội của các vùng sinh thái lãnh thổ khác nhau như Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ,… đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của các vùng.v.v…

          Rõ ràng, những tri thức cơ bản về khoa học địa lý đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò là cơ sở cho sự ra đời của những công trình khoa học có giá trị cho đất nước và nhân loại, nếu chúng được vận dụng một cách đúng đắn, khoa học và có hệ thống vào lĩnh vực khoa học cơ bản, có tính tổng hợp, còn nhiều mới mẻ, nhưng rất cần thiết đối với nhân loại và đối với nước ta - Khoa học về môi trường và phát triển bền vững./.  

GS. TS Vũ Tự Lập