Thực trạng phát triển du lịch ở vùng Tây Bắc 17/12/2020

ThS. Nguyễn Thị Hòa

Phòng Địa lí văn hóa- Viện Địa lí nhân văn

 

Mở đầu

    Tây Bắc là khu vực miền núi với những đặc trưng riêng biệt không có ở nơi nào khác trên đất nước Việt Nam. Với đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và nét đặc sắc về văn hóa của các tộc người sinh sống ở đây đã tạo nên sự hấp dẫn cho du lịch Tây Bắc và khiến nó trở thành trọng tâm phát triển kinh tế xã hội của vùng. Những năm gần đây, lượng khách du lịch cả trong và ngoài nước đến với Tây Bắc ngày một tăng. Năm 2018, tổng số khách du lịch đến vùng Tây Bắc đạt 20,2 triệu lượt, trong đó khách quốc tế đạt 1,9 triệu lượt, đem lại doanh thu gần 23 nghìn tỷ đồng cho ngân sách các địa phương trong vùng­ [14]. Đối với tỉnh Điện Biên năm 2018, lượng khách đến đây đạt khoảng 705.000 lượt khách, tăng 17,5% so với năm 2017, trong đó khách quốc tế ước đạt 151.000 lượt, tăng 25,8% so với năm 2017 [9], doanh thu của các cơ sở lưu trú ở Điện Biên là khoảng 53.764 triệu đồng [2]. Theo thống kê năm 2018, lượng khách du lịch tới Sơn La là trên 2 triệu lượt, trong đó khách lưu trú khoảng trên 1,2 triệu lượt; khách nội địa trên 1,1 triệu lượt; khách quốc tế 70.000 lượt, doanh thu từ các hoạt động du lịch đạt trên 1.300 tỷ đồng. Trong 10 tháng đầu năm 2019, các điểm du lịch của Sơn La đã đón khoảng 1,5 triệu lượt khách đến tham quan du lịch, trải nghiệm; trong đó, 71.000 lượt khách nước ngoài; tổng doanh thu hoạt động du lịch ước đạt 1.225 tỷ đồng [5]. Năm 2018 chỉ tính riêng số lượt khách du lịch nội địa do các cơ sở lưu trú ở Sơn La phục vụ là khoảng xấp xỉ 1,08 triệu lượt, tăng gần 10% so với năm 2017, doanh thu của các cơ sở lưu trú là khoảng 174.661 triệu đồng và của các cơ sở lữ hành là 15.176 triệu đồng [3]. Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu thuộc tỉnh Sơn La, tổng lượt khách đến năm 2015 chỉ đạt 750 nghìn. Đến năm 2018 khách du lịch đã đạt tới 1.200 nghìn lượt, trong đó khách quốc tế đạt 55.000 người, tổng doanh thu ước đạt 1.080 tỷ đồng [13].

1. Về hạ tầng giao thông vùng Tây Bắc

       Muốn đẩy mạnh phát triển du lịch thì một trong những điều kiện quan trọng nhất là phải có giao thông thuận tiện. Tây Bắc vốn là vùng rộng lớn với địa hình hiểm trở, rừng núi điệp trùng. Nhờ đó mà cảnh quan nơi đây vô cùng hùng vĩ, đẹp mắt, song lại là một thách thức đối với vấn đề hạ tầng giao thông. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Nhà nước và các cấp chính quyền, các nhà đầu tư nên hạ tầng giao thông vùng Tây Bắc đã có những bước chuyển mạnh mẽ và nổi bật. Nhiều dự án đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng, đặc biệt là những dự án đường cao tốc đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Giao thông vận tải vùng Tây Bắc hiện có 4 phương thức là đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không, trong đó vận tải đường bộ có vai trò quan trọng nhất. Hiện tại, toàn vùng có 3.718/6.730km đường quốc lộ. Các dự án đường cao tốc Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai, Hà Nội – Thái Nguyên, Hà Nội – Bắc Giang, Hòa Lạc – Hòa Bình, Thái Nguyên – Chợ Mới đã hoàn thành và được đưa vào khai thác. Hệ thống đường sắt có tổng chiều dài khoảng 700km đã cơ bản được đầu tư giai đoạn 1. Có 5 tuyến giao thông đường thủy nội địa trong vùng bao gồm: Hà Nội – cảng Việt Trì – Lào Cai, Việt Trì – Tuyên Quang, tuyến ngã 3 Hồng Đà – cảng Hòa Bình, Phả Lại – Đa Phúc, Phả Lại – A Lữ, chủ yếu liên kết với các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Giao thông hàng không hiện tại chỉ có sân bay Điện Biên. Sân bay Nà Sản đã dừng hoạt động, sân bay Lào Cai và Lai Châu vẫn đang ở khâu quy hoạch [1]. Sân bay Điện Biên (hay còn gọi là sân bay Mường Thanh) thuộc tỉnh Điện Biên được xây dựng từ thời Pháp thuộc, trước đây được sử dụng làm sân bay dã chiến phục vụ mục đích quân sự. Từ năm 1984, sân bay này đã được đưa vào khai thác dân sự, đường bay Hà Nội – Điện Biên và ngược lại chính thức được đưa vào khai thác phục vụ cho nhu cầu đi lại của nhân dân [16]. Nhờ sự phát triển, cải thiện về hạ tầng giao thông kết nối vùng Tây Bắc với các vùng khác trên cả nước nói riêng và cả nước ngoài nói chung đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động du lịch giúp cho doanh thu từ du lịch mang lại cho vùng tăng lên qua từng năm. Sự phát triển của du lịch đã tạo đà dịch chuyển và góp phần thay đổi diện mạo của cả vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, dù đã được quan tâm đầu tư và xây dựng, cải thiện, song hạ tầng giao thông của vùng Tây Bắc hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

2. Về sản phẩm du lịch

2.1 Loại hình du lịch văn hóa lịch sử

        Tây Bắc là vùng có nhiều thế mạnh về loại hình du lịch này vì nơi đây có nhiều di tích lịch sử quan trọng và là nơi có nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống. Chỉ riêng tỉnh Điện Biên đã có 22 di tích lịch sử, danh thắng được xếp hạng điển hình như: Tháp Mường Luân, Thành Tam Vạn, Thành Bản Phủ và đặc biệt là quần thể di tích Chiến trường Điện Biên Phủ - di tích được xếp hạng Quốc gia đặc biệt năm 2009 gắn với chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” [4]. Du lịch văn hóa lịch sử ở Sơn La nổi tiếng với di tích lịch sử Nhà tù Sơn La, Bảo tàng tổng hợp tỉnh Sơn La ở thành phố Sơn La, Pháo đài Dua Cá, Cầu Đá, miếu Nàng Han ở Quỳnh Nhai, Tháp cổ Mường Và ở Sốp Cộp, Văn bia vua Lê Thái Tông ở Thẩm Ké, thành phố Sơn La, Cứ điểm Nà Sản, tượng đài Thanh niên xung phong ở Mai Sơn [10]. Ngoài ra, Tây Bắc còn là địa bàn sinh sống bao đời nay của 30 dân tộc anh em như: Dao, Mông, Kháng, Mảng, Thái, Tày, Nùng, Mường, Kinh, Hoa, Khơ mú, Lự, Hà Nhì, La Hủ, Si La, Phù Lá, Xinh Mun, Cơ Lao, Sán Chỉ, Sán Dìu, Cống, Lô Lô, Pu Péo… Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa độc đáo, có những nét tương đồng và khác biệt góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng mà vẫn thống nhất của văn hóa vùng Tây Bắc. Đây là một trong những điểm nổi bật giúp Tây Bắc thu hút nhiều khách du lịch cả trong và ngoài nước đến tìm hiểu và khám phá. Nhờ đó mà trong loại hình du lịch này, các sản phẩm du lịch như: Thăm quan, nghiên cứu, tìm hiểu; Văn hóa, lễ hội và sự kiện lịch sử; Thăm lại chiến trường xưa được khách du lịch đặc biệt ưa chuộng.

2.2 Loại hình du lịch sinh thái

        Với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, hệ sinh thái phong phú, đa dạng, Tây Bắc đặc biệt thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch khám phá. Điển hình có thể kể đến đỉnh Fansipan được mệnh danh là “nóc nhà của Đông Dương” cao 3143m trên dãy Hoàng Liên Sơn thuộc tỉnh Lào Cai. Trước đây chỉ những du khách quốc tế quen với môn thể thao leo núi mạo hiểm mới dám chinh phục. Nhưng hiện nay đã có đường cáp treo lên đến tận đỉnh núi giúp cho hầu hết các du khách đều có thể đến thăm quan được. Khu danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải, Yên Bái độc đáo, đẹp mê hồn người. Hồ Pá Khoang mênh mông giữa những cánh rừng cổ thụ ở Điện Biên. Gần đó là rừng Mường Phăng với hàng ngàn loài động thực vật quý hiếm. Ở Sơn La có khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi cao cấp rừng thông bản Áng thuộc huyện Mộc Châu cùng các khu du lịch sinh thái thác Dải Yếm, Tà Xùa… Thung lũng Mai Châu luôn êm đềm với những mái nhà sàn và những đồng lúa chín là đặc trưng của cảnh sắc Hòa Bình. Ở đây nổi tiếng với Khu du lịch bản Lác và khu du lịch Đá Bia của huyện Đà Bắc đã được trao giải “Những điểm du lịch cộng đồng có chất lượng và đạt tiêu chuẩn môi trường xanh” của ASEAN [15] … Chính vì thế, những sản phẩm du lịch như Thăm quan nghiên cứu các điểm cảnh quan; Nghỉ dưỡng chữa bệnh; Thể thao leo núi mạo hiểm cũng chính là những sản phẩm được các công ty lữ hành trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc quan tâm khai thác để tận dụng những thế mạnh về cảnh quan mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng nơi đây.

2.3 Loại hình du lịch thương mại, công vụ

        Loại hình du lịch này bao gồm các sản phẩm du lịch như: Hội nghị, hội thảo, hội chợ và Du lịch kèm sự kiện. Chi tiêu trong du lịch thương mại, công vụ chủ yếu là do các cơ quan, doanh nghiệp, các tổ chức chi trả nên thường sẽ cao gấp 3-4 lần so với khách du lịch thông thường. Đối tượng khách tham dự loại hình du lịch này là những người có nhu cầu khảo sát cơ hội đầu tư, kinh doanh, có nhu cầu tham dự những cuộc hội chợ có uy tín trong lĩnh vực họ quan tâm…[12].  Đây là loại hình du lịch mang lại lợi ích lớn cho cả về phía doanh nghiệp du lịch lẫn người dân địa phương và cần được quan tâm khai thác nhiều hơn ở vùng Tây Bắc.

3. Về nguồn nhân lực du lịch

        Một trong những yếu tố quan trọng khi phát triển du lịch ở bất kỳ địa phương nào đó là nguồn nhân lực du lịch. Do đặc thù của ngành du lịch dịch vụ nên vai trò của người lao động ở đây đóng vai trò then chốt, quyết định đến chất lượng dịch vụ. Lực lượng lao động trong ngành du lịch của vùng Tây Bắc hầu hết được chuyển công tác từ các bộ phận và chuyên ngành khác nhau sang làm du lịch hoặc kiêm nhiệm làm du lịch. Vì thế, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về du lịch chủ yếu là từ các lớp tập huấn ngắn hạn và tự học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp. Còn đối với đội ngũ lao động nghiệp vụ, các hướng dẫn viên du lịch và những lao động liên quan đa số đều có trình độ học vấn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu trong kinh doanh du lịch và số lượng này hiện nay vẫn còn thiếu so với nhu cầu. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, số lượng lao động trong lĩnh vực du lịch của khu vực trung du và miền núi phía Bắc là 25.183 người. Số lượng này bao gồm nhân lực trong lĩnh vực du lịch của cả khu vực Tây Bắc và các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên. Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 đã giúp nhiều lao động vùng dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch để phát triển du lịch cộng đồng nhằm xóa đói giảm nghèo cho các địa phương [7].

4. Về hệ thống cơ sở lưu trú

        Hiện nay, toàn vùng Tây Bắc có trên 1.305 cơ sở lưu trú, với 16.776 phòng, trong đó có 1.196 khách sạn từ 1 - 4 sao, 1.081 nhà nghỉ. Các cơ sở lưu trú tại gia hay còn gọi là homestay ở các điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn cũng tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách [8].

        Đối với tỉnh Điện Biên, hiện nay cơ sở hạ tầng du lịch ở đây đã được quan tâm đầu tư kịp thời nhằm đáp ứng yêu cầu của lượng khách du lịch ngày một tăng. Toàn tỉnh hiện có hơn 210 cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch với 2.793 buồng với 4.881 giường. Trong đó có 23 khách sạn đủ điều kiện từ 1 đến 4 sao; 4 homestay, trên 142 cơ sở lưu trú khác [4]. Sơn La hiện có 162 cơ sở lưu trú du lịch đã được thẩm định xếp hạng, với 2.900 buồng. Trong đó, 118 nhà nghỉ du lịch, 14 homestay và 3 khách sạn 3 sao, 11 khách sạn 2 sao, 16 khách sạn 1 sao. Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư các khu vui chơi giải trí để phục vụ nhu cầu của du khách; nhiều loại hình du lịch mới được hình thành như du lịch khám phá, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng…[5].

        Như vậy có thể thấy hệ thống các cơ sở lưu trú ở vùng Tây Bắc đã được quan tâm đầu tư khá tốt từ các cấp chính quyền địa phương và các doanh nghiệp, bước đầu đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nước khi đến du lịch tại đây. Đặc biệt, loại hình lưu trú homestay là loại hình mới được đưa vào đầu tư khai thác đã và đang thu hút rất nhiều khách du lịch, nhất là những người ưa thích sự giản dị, bình yên, gần gũi với khung cảnh thiên nhiên núi rừng thơ mộng. Khi mới đưa vào hoạt động, hình thức này chỉ thu hút những khách du lịch quốc tế là chủ yếu. Nhưng hiện nay, rất nhiều khách du lịch trong nước đã sử dụng và rất thích loại hình lưu trú này.

Kết luận

        Du lịch Tây Bắc trong những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng kể thể hiện qua mức tăng của số lượt khách đến du lịch tại đây. Khách du lịch lên Tây Bắc ngoài mục đích thăm lại các di tích lịch sử văn hóa thì còn để thưởng thức cảnh đẹp hùng vĩ và những món ăn dân tộc độc đáo. Cơ sở hạ tầng những năm gần đây đã có những thay đổi tích cực khiến cho việc giao thông đi lại lên đây bớt khó khăn hơn, thu hút nhiều khách du lịch hơn. Với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và những tài nguyên văn hóa đặc sắc, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Bắc đã và đang quan tâm phát triển du lịch nhằm nâng cao đời sống kinh tế xã hội cho nhân dân trong vùng./.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giao thông Vận tải (2017), Thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng Tây Bắc, http://mt.gov.vn/vn/tin-tuc/49797/thuc-day-phat-trien-ket-cau-ha-tang-giao-thong-vung-tay-bac.aspx truy cập ngày 18/3/2020

2. Cục Thống kê tỉnh Điện Biên (2019), Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên 2018, NXB Thống kê, tr 448.

3. Cục Thống kê tỉnh Sơn La (2019), Niên giám thống kê tỉnh Sơn La 2018, NXB Thống kê, tr 435,437.

4. Đặng Minh Phương (2019), Giới thiệu về tỉnh Điện Biên, Phòng Nghiệp vụ du lịch, Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Điện Biên.

5. Đặng Phương (2019), Sơn La chú trọng khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, http://dangcongsan.vn/kinh-te/son-la-chu-trong-khai-thac-co-hieu-qua-tiem-nang-du-lich-541849.html  truy cập ngày 21/2/2020

6. Hoàng Ngọc Hải, Hồ Thanh Thủy (2019), Liên kết vùng trong phát triển du lịch các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, Tạp chí Lý luận số 4/2019

7. Ngô Tuấn Anh (2017), Phát triển du lịch vùng Tây Bắc – Một số khuyến nghị, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia: “Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc” tr 247

8. Số liệu khảo sát năm 2019 của ĐTCB: “Khai thác tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển du lịch bền vững vùng Tây Bắc” do ThS. NCVC. Đinh Trọng Thu chủ nhiệm.

9. Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Điện Biên (2019), Báo cáo công tác phát triển du lịch tỉnh Điện Biên năm 2018.

10. Sở Văn hóa thể thao du lịch tỉnh Sơn La (2019), Báo cáo khái quát về phát triển du lịch gắn với văn hóa tỉnh Sơn La.

11. Tài nguyên và Môi trường, Báo điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường  (2018), Sơn La: Đóng hơn 1,9 triệu lượt khách năm 2017,  baotainguyenmoitruong.vn/son-la-don-hon-1-9-trieu-luot-khach-nam-2017-252109.html truy cập ngày 21/3/2020

12. Tạp chí Vietnam Bussiness Forum (2012), Phát triển du lịch công vụ tại Việt Nam: Cần phải tư duy lại, Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam http://vccinews.vn/news/5247/.html truy cập ngày 20/3/2020.

13. Tỉnh ủy Sơn La (2019), Dự thảo Báo cáo Tổng kết đánh giá kết quả triển khai “Quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La (giai đoạn 2015-2020).

14. Tổng cục du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2019), Hợp tác phát triển du lịch vùng Tây Bắc (Kỳ 1), http://www.vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/29624 truy cập ngày 20/2/2020

15. Tổng cục du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2019), Hợp tác phát triển du lịch vùng Tây Bắc (Kỳ 1), http://www.vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/29624 truy cập ngày 20/2/2020

16. Vũ Điệp (2019), Mở rộng sân bay Điện Biên để đón được máy bay A320, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/an-toan-giao-thong/mo-rong-san-bay-dien-bien-de-don-duoc-may-bay-a320-557731.html truy cập ngày 18/3/2020