BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 03/12/2020

TS. Nguyễn Đình Đáp

Phòng Địa lí Sinh thái và Môi trường, Viện Địa lí nhân văn

   Đất ngập nước (ÐNN) Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại, loại hình cảnh quan và sinh thái, phong phú về tài nguyên đa dạng sinh học, có nhiều chức năng, giá trị kinh tế, xã hội, văn hóa... Các vùng này đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước, mang lại nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người dân. Việt Nam cũng là quốc gia Ðông Nam Á đầu tiên tham gia công ước Ramsar (Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế). Không phải nước nào cũng có một hệ thống đất ngập nước phong phú, đa dạng, lại được phân bố rộng khắp như nước ta. Tuy nhiên, hiện nay nhiều vùng đất ngập nước đã bị suy giảm cả về chất lượng và số lượng các loài động, thực vật do hoạt động khai thác và sử dụng quá mức của con người, đó là những nội dung quan trọng được chỉ ra trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Quản lý đất ngập nước gắn với phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng” do TS. Nguyễn Song Tùng, Viện Địa lí nhân văn (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) làm chủ trì.

Giá trị của đất ngập nước ven biển Đồng bằng sông Hồng

        Việt Nam có khoảng hơn 12 triệu ha ĐNN phân bố rộng khắp các vùng sinh thái, trong đó hai vùng là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có diện tích ĐNN lớn nhất. Nhiều vùng ĐNN được xác định có giá trị bảo tồn cao (nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên và nhiều khu đã công nhận là khu Ramsar), cung cấp các dịch vụ sinh thái thiết yếu cho phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Việt Nam cũng đã trở thành thành viên thứ 50 của Công  ước Ramsar về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế (năm 1989).

        Các vùng ĐNN có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống trên hành tinh của chúng ta. ĐNN cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng cho sự phát triển thịnh vượng của mỗi quốc gia, bao gồm cung cấp nguồn lợi phục vụ cho phát triển nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là thủy sản, nông nghiệp, du lịch… Lúa gạo được trồng từ các vùng ĐNN là nguồn lương thực chủ yếu cho khoảng 3 tỷ người, chiếm khoảng 20% nguồn tiêu thụ dinh dưỡng toàn cầu. Các vùng ĐNN còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng; là nơi nghỉ dưỡng, giải trí và đóng góp đáng kể trong sự phát triển của ngành du lịch. Đến nay, các vùng ĐNN cung cấp sinh kế cho hơn 1 tỷ người trên thế giới.

        ĐNN có khả năng dự trữ các bon (các vùng đất than bùn chứa đựng 30% lượng các bon ở mặt đất), điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu, hạn chế lũ lụt, là nơi lắng đọng phù sa, hình thành đất và tham gia tích cực trong vòng tuần hoàn các chất dinh dưỡng của hệ sinh thái toàn cầu. ĐNN cũng là “cái nôi” quan trọng của đa dạng sinh học; 40% các loài sinh vật trên Trái đất sinh sống và sinh sản ở các vùng ĐNN. Đa dạng sinh học vùng ĐNN góp phần làm sạch nguồn nước, chất ô nhiễm; bảo vệ, giảm thiểu tác động của bão, nhất là các hệ sinh thái rừng ngập mặn, rạn san hô là tấm chắn bảo vệ vùng ven biển.

        Vùng ĐBSH bao gồm 11 tỉnh, trong đó có 5 tỉnh ven biển: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Khu vực đất ngập nước vùng ven biển ĐBSH được đánh giá có mức ĐDSH cao thể hiện ở sự đa dạng các kiểu ĐNN, đặc biệt rừng ngập mặn, bãi triều và vùng nước cửa sông là các hệ sinh thái đặc thù, quan trọng của địa phương và quốc gia; thành phần loài sinh vật đa dạng bao gồm cả các nhóm nước ngọt, nước lợ và biển. Trong đó, nhiều loài có tên trong sách đỏ cần ưu tiên bảo vệ, nhiều loài có giá trị khoa học và kinh tế.

        Đặc biệt, Vườn quốc gia Xuân Thủy - Nam Định, nơi đây bảo tồn các loài chim di cư có tầm quan trọng quốc tế trong đó có loài Cò mỏ thìa (Platalea minor) - một loài chim di cư đặc biệt quý hiếm mà trên toàn thế giới chỉ còn hơn 300 cá thể, lúc nhiều nhất cũng chỉ lên đến 1.000 cá thể, trong đó Vườn quốc gia Xuân Thủy hiện là điểm duy nhất của Việt Nam thường xuyên đón nhận gần 100 cá thể di trú từ tháng 9 đến tháng 5 hàng năm. Vườn quốc gia Xuân Thủy còn là nơi trú chân của hơn 200 loài chim di cư và chim bản địa, trong đó có hơn 60 loài chim nước.

Description: https://image.vovworld.vn/w730/uploaded/vovworld/ovunhuo/2016_11_18/xuan%20thuy1.jpg

Cò thìa ở Vườn quốc gia Xuân Thủy (Ảnh: vuonquocgiaxuanthuy.org.vn)

        Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng bằng sông Hồng có tiềm năng rất lớn về du lịch sinh thái, tham quan và tìm hiểu về thế giới tự nhiên. Đánh giá tình trạng đa dạng sinh học của các vùng chim quan trọng ĐNN ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, theo khảo sát của Tổ chức bảo tồn các loài chim và sinh cảnh  Quốc tế tại Việt Nam (BirdLife) thì vùng ĐNN ven biển khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng có 6 vùng chim quan trọng. Đây là vùng có ý nghĩa sống còn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Đông Dương, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các loài chim nước di cư đến và đi qua từ Đông Bắc Á và Xibêri đến châu Đại Dương. Do đó, việc duy trì tính toàn vẹn và chất lượng sinh cảnh vùng đồng bằng Bắc Bộ được coi là một nghĩa vụ quốc tế. Theo tổ chức Friends of the Earth, bảo vệ những vùng đệm tự nhiên là cách giải quyết duy nhất để bảo vệ dân cư vùng ven biển chống lại sóng triều và các đe dọa khác trong tương lai.

        ĐNN còn có giá trị về văn hóa, xã hội, lịch sử. Chính ĐNN là cội nguồn của nền văn minh lúa nước gắn với đời sống văn hóa, tinh thần và nhiều phong tục của người dân Việt Nam. Đáng chú ý, ĐNN còn có giá trị về nghiên cứu khoa học và giáo dục để giúp con người hiểu biết đầy đủ hơn sự vận hành của các hệ thống tự nhiên, góp phần bảo vệ và cải tạo môi trường, bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển bền vững.

Những tác động làm suy thoái ĐNN ven biển Đồng bằng sông Hồng

        Trên phạm vi toàn cầu, ĐNN trên Trái đất đang bị suy giảm nghiêm trọng. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, đến nay, ĐNN của thế giới đã biến mất đi 64% kể từ năm 1900. Nếu tính từ năm 1700, nhân loại đã bị mất xấp xỉ 87%. Cùng với sự suy giảm ĐNN, theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF), các quần thể thủy sinh vật đã giảm đi 76% trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2010. Tình trạng này vẫn có chiều hướng gia tăng nếu thiếu các hành động mạnh mẽ để bảo tồn ĐNN ở các quốc gia. Suy thoái quá mức của ĐNN sẽ dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái, đe doạ đến an ninh lương thực và sự phát triển của xã hội loài người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự suy thoái và mất ĐNN vùng ĐBSH chủ yếu là do:

(1) Nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng, giá trị và chức năng của vùng ĐNN dẫn đến việc nhiều vùng ĐNN còn bị coi là đất hoang hoá. Các dịch vụ hệ sinh thái của vùng ĐNN chưa được chú trọng trong các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

(2) Nhiều địa phương chưa đánh giá đúng và phát huy được giá trị dịch vụ hệ sinh thái ĐNN, còn tồn tại các xung đột trong việc hài hoà giữa mục tiêu phát triển và bảo tồn các vùng ĐNN. Điều này làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng ĐNN. Trên địa bàn 5 tỉnh ven biển phía Bắc có hàng trăm nghìn ha bãi triều, đầm lầy nước mặn, cồn cát và bãi bồi. Phần lớn diện tích này đang được sử dụng để làm khu vực đánh bắt, nuôi trồng thủy sản một cách tự phát. Điều này dẫn đến tình trạng bệnh dịch đối với vật nuôi, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế; hoạt động phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản, làm mất khả năng phòng hộ, mất sự kết nối các khu vực bảo tồn ven biển để tăng cường sự bảo tồn đa dạng sinh học…

(3) Nhiều vùng ĐNN đã bị biến mất và diện tích các vùng ĐNN bị thu hẹp do gia tăng sức ép khai thác, sử dụng ĐNN và các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các vùng ĐNN; giảm chất lượng đất và nước, thay đổi cấu trúc và chức năng dịch vụ hệ sinh thái ở nhiều vùng đất ngập. Sự mất mát có xu hướng nhanh hơn ở những khu vực có tốc độ gia tăng dân số cao nhất và những khu vực có nhu cầu phát triển kinh tế lớn nhất. Hàng loạt nguyên nhân gây ra việc ĐNN tiếp tục bị mất và suy thoái liên quan đến kinh tế và các hoạt động khu vực ven biển.

(4) Nguồn lực về tài chính, cơ chế đầu tư trong quản lý ĐNN còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN, hạn chế hiệu quả quản lý các hệ sinh thái, khu bảo tồn vùng ĐNN của Việt Nam.

(5) Ngoài ra, 5 tỉnh/thành phố ven biển phía Bắc nằm trong vùng ĐBSH đang chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm sự mất mát và suy thoái đa dạng sinh học ĐNN, bao gồm các loài không thể di chuyển và các loài di cư sống phụ thuộc vào một số vùng ĐNN ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống.

Giải pháp bảo tồn và phát triển ĐNN ven biển Đồng bằng sông Hồng

         Phát triển bền vững 5 tỉnh vùng ven biển phía Bắc trong bối cảnh những tác động tiêu cực của BĐKH mang ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hàng triệu người dân sống ở khu vực này và sự phát triển của toàn vùng. Một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả cần áp dụng là tăng cường phục hồi và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ở các bãi triều, đầm lầy nước mặn, cồn cát và bãi bồi dọc theo bờ biển.

        Trước mắt, trong bối cảnh hiện nay, một số biện pháp cần được thúc đẩy để bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN như đẩy mạnh triển khai hiệu quả Nghị định số 66/2019/NĐ-CP ngày 29/7/2019 về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN trên toàn quốc. Các địa phương cần ban hành kế hoạch hành động về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN; danh mục các vùng ĐNN quan trọng của địa phương.

        - Cơ quan chức năng cần tổ chức các hoạt động tuyên truyền và huy động sự tham gia, cam kết của cộng đồng trong bảo tồn, sử dụng bền vững các vùng ĐNN, dừng các hoạt động gây suy thoái các vùng ĐNN và thúc đẩy phục hồi đa dạng sinh học các vùng ĐNN.

        - Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực quản lý, nâng cao hiệu quả bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN, đặc biệt là phát huy được các giá trị dịch vụ hệ sinh thái ĐNN và bảo vệ được đặc tính sinh thái của các hệ sinh thái ĐNN có giá trị cao về đa dạng sinh học, môi trường và kinh tế-xã hội.

        - Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, cần phục hồi và duy trì hệ sinh thái ĐNN, phục hồi và phát triển các khu rừng ngập mặn hướng đến việc tạo ra một vành đai xanh để bảo vệ bờ biển, chống xâm thực bờ biển và xâm nhập mặn; tăng cường đa dạng sinh học; chuyển đổi các hoạt đột nuôi trồng và đánh bắt thủy sản theo hướng bền vững để đảm bảo sinh kế cho các cộng đồng dân cư sống ở 5 tỉnh ven biển phía Bắc.

        - Đồng thời, tổ chức các hoạt động giúp cho chính quyền địa phương và người dân ở cộng đồng ven biển hiểu biết tốt hơn về lợi ích của rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển có liên quan trong vai trò là vùng đệm chống lại các tác động của BĐKH, áp dụng các chiến lược thích ứng sáng tạo nhằm ứng phó hoặc thích ứng với sự biến đổi của khí hậu...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong Nghị định của Chính Phủ về Bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước.
  2. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2001), Các vùng đất ngập nước có giá trị đa dạng sinh học và môi trường của Việt Nam, 187 tr.
  3. Cục Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005), Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar.
  4. Sở Tài nguyên và Môi trường Nam Định (2018), Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Nam Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Báo cáo tổng hợp, 250tr.
  5. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nam Định (2010), Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản và muối tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
  6. UNDP (2015), Bảo tồn đa dạng sinh học biển và đất ngập nước - Kinh nghiệm từ một số dự án nhỏ của GEF.
  7. Vũ Quốc Đạt (2020), Phát huy vai trò của vùng Đất ngập nước Xuân Thủy - Khu Ramsar quốc tế đầu tiên của Việt Nam. Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định.
  8. Gill Shepherd, Lý Minh Đăng (2019). Áp dụng tiếp cận hệ sinh thái các vùng đất ngập nước Việt Nam. IUCN Việt Nam.
  9. Phan Văn Phong (2015), Công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Nam Định. Kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc năm 2015.
  10. Hà Quý Quỳnh, Vũ Thị Thanh Hương (2011), Nghiên cứu sinh thái cảnh quan Vườn quốc gia Xuân Thủy phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Đất ngập nước và biến đổi khí hậu”.
  11. Vũ Thanh Thúy (2018), Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển. Báo Nam Định, số tháng 8/2018.
  12. Nguyễn Song Tùng, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ (2020). Quản lý đất ngập nước gắn với phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng. Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

TS. Nguyễn Đình Đáp

 


Các tin cũ hơn.............................