Suy thoái đất ở Hà Giang và một số giải pháp giảm thiểu 03/12/2020

TS. Phạm Thị Trầm

Phòng Địa lí kinh tế và chính trị, Viện Địa lí nhân văn

 

1. Suy thoái đất và các nguyên nhân

        * Khái niệm suy thoái đất

        Theo định nghĩa của FAO: suy thoái đất là quá trình làm suy giảm khả năng sản xuất ra hàng hóa và các nhu cầu sử dụng đất của con người [4].

        Đất bị suy thoái là những loại đất do những tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp [1]. Như vậy, đất bị suy thoái nghĩa là bị suy giảm hoặc mất đi độ phì đất, khả năng sản xuất, cảnh quan sinh thái, hệ sinh vật, môi trường sống của con người.

        Sự suy thoái đất là hậu quả của các tác động khác nhau từ bên ngoài và bên trong của quá trình sử dụng đất như thiên tai (khô - hạn - bão - lũ lụt - nóng – rét) và hoạt động sản xuất không hợp lý của con người.

        * Nguyên nhân suy thoái đất

        Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự suy thoái đất. Có thể phân ra các loại nguyên nhân gây suy thoái đất khác nhau để làm cơ sở cho các giải pháp ngăn chặn hoặc khắc phục hiện tượng suy thoái đất thích hợp và có hiệu quả.

         Về nguyên nhân do tự nhiên:

        - Sông suối thay đổi dòng do những chấn động địa chất cũng làm nhiều diện tích đất bị suy thoái, thậm chí bị chết (biến thành sa mạc) do không còn sự sống vốn có của đất. Hiện nay, đối với địa bàn tỉnh Hà Giang, hiện tượng phun trào núi lửa không còn xảy ra, tuy nhiên hiện tượng đứt gãy địa chất vẫn xuất hiện tại các khu vực khe núi và dọc theo các suối.

        - Do thay đổi khí hậu, thời tiết: Đối với địa bàn tỉnh Hà Giang, sự gia tăng cường độ mưa vào mùa mưa trong những năm gần đây đã làm gia tăng các hiện tượng như trượt, sạt lở đất, lũ ống, lũ quét, xói mòn, rửa trôi dẫn đến gia tăng hiện tượng suy thoái đất. Nhiệt độ tăng cao mùa hè là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng khô hạn trên địa bàn các huyện như Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh...

        - Ngoài ra, mưa liên tục với cường độ lớn gây lũ quét, rửa trôi, xói mòn trên vùng đồi núi và ngập úng ở vùng thấp trũng; khô hạn, nóng kéo dài dẫn đến đất bị hoang mạc hóa, đất trống, đồi núi trọc. Tại một số vùng khí hậu khô nóng, đất bị sa mạc hóa cũng đã gây ra hiện tượng suy thoái đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

        Về nguyên nhân do con người:

        - Chặt đốt rừng làm nương rẫy, trồng cây lương thực ngắn ngày trên đất dốc theo phương pháp truyền thống tại các huyện vùng cao núi đá phía Bắc, nơi có địa hình dốc và là nơi tập trung sinh sống của đồng bào dân tộc.

        - Đất bị suy thoái do bị ô nhiễm chất độc bởi các hoạt động khác của con người việc sử dụng hóa chất, phân hóa học trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân không đúng kỹ thuật, việc vứt bừa bãi các rác thải sinh hoạt và công nghiệp không qua xử lý... Bên cạnh đó, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã và đang gây ra ảnh hưởng lớn đến môi trường, đặc biệt là môi trường đất (các hiện tượng trượt, sạt lở đất, xói mòn).

2. Các biểu hiện suy thoái đất

        - Hiện tượng khô hạn, hoang mạc hóa, sa mạc hóa

        Trong những năm gần đây mực nước các sông, suối trên địa bàn tỉnh đã xuống thấp hơn trung bình nhiều năm trước và mực nước ở các hồ chứa ở mức thấp hiếm có, nhiều hồ bị cạn kiệt, nắng nóng kéo dài làm cho tình hình khô hạn và thiếu nước xảy ra ngày càng gay gắt hơn.

       Hạn hán gây thiếu nước sinh hoạt, nhất là ở vùng cao như huyện Yên Minh, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc. Người dân phải đi lấy nước ở xa nơi ở 3-5 km và có trường hợp phải đi xuống vùng thấp lấy nước xa tới 10 km. Thiếu nước sinh hoạt cho người và cho cả gia súc ở các huyện vùng cao kể trên.

        Trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện nay chưa thấy xuất hiện hiện tượng sa mạc hóa, nhưng hiện tượng hoang mạc hóa thuộc loại hoang mạc đá đã xuất hiện từ lâu tại Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn. Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở độ cao từ 1000-1600 m so với mực nước biển, có diện tích gần 2356 km2  và trải dài qua 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và huyện Đồng Văn [3].

       - Hiện tượng đất bị xói mòn

       Với đặc thù là tỉnh miền núi, địa hình có độ dốc lớn và có nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc, nên tình trạng đất bị rửa trôi, xói mòn xảy ra phổ biển trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Trong một thời gian dài rừng bị tàn phá, nhân dân canh tác nương rẫy trên đất dốc với các biện pháp canh tác không hợp lý nên vào mùa mưa đất bị rửa trôi làm trơ sỏi đá, bạc màu, suy thoái và gây ô nhiễm nguồn nước.

        Diện tích đất xói mòn nặng trên địa bàn tỉnh phân bố hầu hết ở các huyện, huyện có diện tích xói mòn lớn nhất là huyện Vị Xuyên 332,85 km2, chiếm 16,63% diện tích xói mòn nặng trên toàn tỉnh (tập trung ở các xã: Minh Tân, Thuận Hòa, Lao Chải, Cao Bồ, Thượng Sơn, Bạch Ngọc, Ngọc Minh); các huyện có diện tích xói mòn ít hơn là: Yên Minh 256,98 km2 chiếm 12,84% diện tích xói mòn nặng trên toàn tỉnh (tập trung ở các xã: Mậu Long, Ngọc Long, Du tiến, Du Già, Đông Minh, Bạch Đích, Na Khê…), Hoàng Su phì 250,24 km2 chiếm 12,51% diện tích xói mòn nặng trên toàn tỉnh (tập trung ở các xã: Bản Phùng, Chiến Phố, Tụ Nhân, Pố Lồ, TT Vinh Quang, Bản Nhùng, Túng Sán, Bản Péo, Nam Sơn); huyện có diện tích xói mòn nặng ít nhất là thành phố Hà Giang 14,86 km2 chiếm 0,74% diện tích xói mòn nặng trên toàn tỉnh (Tập trung ở các phường: Phương Độ, Phương Thiện) [3].

        Tuy nhiên, xét tỷ lệ diện tích bị xói mòn trên toàn bộ diện tích tự nhiên của từng huyện thì huyện Hoàng Su Phì là huyện có tỷ lệ diện tích bị xói mòn nặng lớn nhất chiếm 39,56% diện tích tự nhiên và huyện Xín Mần có tỷ lệ diện tích bị xói mòn nặng lớn thứ hai chiếm 36,96% diện tích tự nhiên. Do đây là các huyện thuộc vùng cao phía Tây là một phần của cao nguyên Bắc Hà có độ cao từ 1.000 m đến trên 2.000 m. Địa hình nơi đây phổ biến dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp đây là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng xói mòn mạnh xảy ra.

       - Hiện tượng suy giảm độ phì nhiêu của đất

        Theo báo cáo kết quả điều tra, đánh giá, diện tích đất bị suy giảm độ phì mạnh chiếm diện tích nhỏ và chủ yếu nằm ở các huyện vùng núi cao như Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc… nhưng khu vực có hiện tượng xói mòn xảy ra mạnh mẽ. Diện tích các cấp độ suy giảm độ phì cụ thể như sau: Diện tích không bị suy giảm độ phì là 1.251,88 km2 chiếm 16% tổng diện tích toàn tỉnh; diện tích đất bị suy giảm độ phì ở mức nhẹ là 5.885,32 km2 chiếm 74% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh; Diện tích đất bị suy giảm độ phì ở mức trung bình là 777,74 km2 chiếm 10% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh [3].

        - Hiện tượng đất bị sạt lở

        Hà Giang là tỉnh vùng núi cao nên hàng năm hiện tượng mưa lũ lớn đã làm nhiều diện tích đất bị sạt lở. Hiện tượng sạt lở đất xảy ra thường xuyên và mạnh mẽ tại nhiều nơi trên địa bàn, đặc biệt là trong các khu vực có độ dốc từ 100 trở lên, song tập trung chủ yếu ở độ dốc 15 ÷ 350. Từ 350 trở lên số điểm sạt lở lại có xu thế giảm.

3. Một số giải pháp phòng ngừa suy thoái đất

        - Giải pháp đảm bảo canh tác bền vững cây Ngô trên đất dốc

        Theo nghiên cứu của Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, kỹ thuật trồng xen các loại cây che phủ trong canh tác ngô trên đất dốc là một trong những biện pháp canh tác hữu hiệu, bền vững và đã trở thành hoạt động sản xuất không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp vùng cao.

        Đây là giải pháp phù hợp với địa bàn và tập quán canh tác của người dân Hà Giang, đặc biệt là khu vực cao nguyên núi đá như các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ và một số khu vực tại vùng núi đất phía Tây như Hoàng Su Phì, Xín Mần.

        - Xây dựng các mô hình nông - lâm kết hợp bền vững

        Canh tác trang trại trên địa bàn huyện Vị Xuyên và huyện Bắc Quang, nơi có nhiều điều kiện thuận lợi phục vụ mục đích sản xuất cho các sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp. Thử nghiệm các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với bối cảnh mới trong từng tiểu vùng; tạo sinh kế cho cộng đồng canh tác nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp. Ngoài trồng rừng cần tập trung phát triển trồng chè và hoa màu như lạc, sắn, ngô và một số cây đặc sản, cây ăn quả như cam, quýt. Trồng kết hợp các loại hoa màu dưới tán rừng trước giai đoạn rừng khép tán, tạo ra thu nhập trước mắt, góp phần đảm bảo nhu cầu sinh kế cho người dân tránh phụ thuộc vào rừng trong giai đoạn trồng rừng kéo dài.

        - Giải pháp làm tường đá

        Tường đá sẽ được xếp theo đường đồng mức có tác dụng làm giảm tốc độ dòng chảy của nước và làm giảm bớt độ xói mòn. Biện pháp này được thực hiện tại khu vực vùng cao núi đá phía bắc gồm các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ là khu vực có diện tích xói mòn khá lớn, tập trung chủ yếu ở các vùng có điều kiện lớp phủ thực vật thưa và lớp vỏ phong hóa mỏng.

        - Biện pháp xen canh, gối vụ

        Trồng xen là trồng nhiều loại cây thành từng hàng xen kẽ nhau, trồng gối vụ là trồng các loại cây có thời vụ khác nhau trên cùng một diện tích và thu hoạch trong các thời gian khác nhau. Về mặt chống xói mòn thì xen canh gối vụ nhằm mục đích là luôn luôn duy trì được lớp phủ thực vật trên nương ruộng, do đó giảm được lực xung kích của hạt mưa, giảm lưu tốc dòng chảy trên mặt đất, giảm được sự xói mòn đất. Vì thế nên trồng xen các loại cây trồng dày và cây trồng thưa, cây cao với cây thấp,... Ngoài ra xen canh gối vụ còn có tác dụng sử dụng hợp lỷ chất phì của đất và diện tích đất, do đó tăng được năng suất và sản lượng. Nông dân khắp nơi có kinh nghiệm xen canh gối vụ như ngô trồng xen với khoai, đậu,... vừa tăng thu nhập, tăng năng suất, làm tốt đất, chống xói mòn.

       - Giải pháp phòng ngừa, hạn chế khô hạn

        Ngoài biện pháp xây hồ treo chứa nước để phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho người dân tại những huyện vùng cao thiếu nước như Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc cần bố trí hệ thống canh tác cạn, đa dạng hoá cây trồng, bố trí gieo trồng kết hợp giữa các cây lương thực, thực phẩm với các cây công nghiệp, cây hoà thảo với cây họ đậu... cây nông nghiệp với cây rừng. Dùng vật liệu che phủ mặt đất như tấm nilông hoặc rơm rạ, cỏ khô để che phủ trên mặt đất cũng có tác dụng giảm yêu cầu tưới, chống được xói mòn đất khi mưa hoặc tưới nước, giảm thiểu được các tác động của khô hạn.

        - Xây dựng, nâng cấp và cải tạo hệ thống kênh mương, thủy lợi chống khô hạn

        Đối với các khu vực thường xuyên chịu tác động của hạn hán như Hoàng Su Phì, Xín Mần, Đồng Văn, Mèo Vạc,... thì cần xây dựng hệ thống kênh mương dẫn nước, đảm bảo tưới tiêu cho các khu vực thường xuyên bị thiếu nước do khô hạn.

        Đối với hệ thống kênh mương thủy lợi hiện có trên địa bàn, cần tiến hành rà soát, đánh giá chất lượng và tính hiệu quả của công trình. Từ đó, đưa ra phương án sử dụng hợp lý, có hiệu quả đối với hệ thống các công trình hiện có trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Thông tư số 14/2012/ TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy định kỹ thuật về điều tra suy thoái đất.

2. Tống Đức Khang và Nguyễn Đức Quý (2008), Bảo vệ đất xói mòn vùng đồi núi- Nhà xuất bản Hà Nội.

3. Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hà Giang (2015), Báo cáo tổng hợp Điều tra, đánh giá thực trạng suy thoái đất trên địa bàn toàn tỉnh và xây dựng biện pháp phòng ngừa ứng phó với biến đổi khí hậu.

4. FAO (1994), Land Degradation in South Asia: its severity, causes and effects upon the people, ROME.